CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DÂN CƯ 1. Khái niệm chung về hoạt động quản lý dân cư 1. Khái niệm về quản lý dân cư 1. Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước Trước tiên, cần làm rõ khái niệm quản lý.
Quản lý là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, xuất phát từ việc phân công công việc và hợp tác trong quá trình lao động, sản xuất, với mục tiêu chung là hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể. Quản lý được thực hiện tại mọi tổ chức, từ những tổ chức đơn giản đến những tổ chức phức tạp, bao gồm từ quy mô nhỏ cho đến quy mô lớn. Các Mác cho rằng “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”. 1244]1 below Quan điểm của F.
Taylor về quản lý là tập trung vào việc xác định cách thức thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất, cả về mặt chất lượng và chi phí. Nhận định của F. Taylor đã được ông Lerence, chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh Mỹ, tổng kết lại như sau: “Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình”. [6] Cùng thời với F.
Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H. Fayol định nghĩa quản lý là một tập hợp các chức năng bao gồm: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [8]. Harold Koontz đưa ra nhận định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm” trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” [9]. Ở Việt Nam, Trần Quốc Thành nhận định rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức để ra” [20].
11 Dựa trên nghiên cứu của Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Lan thì: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [22]. Dù theo cách tiếp cận nào, bản chất của hoạt động quản lý là cách thức ảnh hưởng đến khách thể quản lý trong một tổ chức theo quy luật, nhằm đạt hiệu quả và mục tiêu mong muốn của tổ chức. Hoạt động này bao gồm tổ chức, điều khiển và kiểm tra để đảm bảo sự vận hành hiệu quả của tổ chức. Quản lý nhà nước là một lĩnh vực rộng lớn, được nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau.
Quản lý nhà nước là hoạt động điều hành, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các hoạt động của xã hội bằng quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Với những đặc điểm trên, trong giáo trình “Lý luận hành chính nhà nước”, Nguyễn Hữu Hải kết luận rằng: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”. Quản lý nhà nước về dân cư Việc dân cư ở nước ta hiện nay luân chuyển giữa các cùng, các địa phương được thực hiện liên tục, do mỗi công dân đều có quyền tự do di chuyển. Tuy nhiên, việc di chuyển đó của người dân lại kéo theo những thay đổi nhất định, đồng thời cũng có thể kéo theo nhiều hệ lụy nếu không được quản lý chặt chẽ.
Do đó, Nhà nước đã can thiệp và thực hiện trách nhiệm quản lý các mặt của đời sống trong lĩnh vực cư trú. Quản lý nhà nước về cư trú, hay còn gọi là quản lý dân cư, là quá trình nhà nước thực hiện các biện pháp, thủ tục để nắm bắt thông tin về dân cư, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp 12 luật, nhằm bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội. Các quy định này giúp quy định cụ thể về những người được đăng ký cư trú, những việc cần làm khi đăng ký cư trú, cách thức thực hiện việc đăng ký cư trú, biện pháp quản lý cư trú và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Quản lý dân cư nhằm xác lập quyền hạn và trách nhiệm của mỗi người, đáp ứng nhu cầu quản lý cộng đồng và ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ quốc gia, an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, có thể rút ra khái niệm quản lý dân cư, là việc các cơ quan hành chính Nhà nước sử dụng quyền lực Nhà nước để quản lý, điều chỉnh hoạt động cư trú của công dân trên cả nước, nhằm định hướng xây dựng hệ thống quản lý cư trú thống nhất nhằm đảm bảo an ninh trật tự và phục vụ các mục tiêu quản lý nhà nước. Công tác quản lý dân cư là cơ sở để lập kế hoạch chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự và triển khai chính sách an sinh xã hội. Chính vì vậy, hoạt động quản lý dân cư đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý dân cư hiệu quả là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế và nâng cao hiệu quả quản lý dân cư là trách nhiệm chung của toàn xã hội, góp phần xây dựng đất nước phát triển văn minh, giàu mạnh.
Trách nhiệm của hoạt động quản lý dân cư Công tác quản lý dân cư có tác động khả quan đến việc lập chính sách, giữ gìn an ninh, trật tự và thực thi chính sách phúc lợi cho người dân. Chính vì vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều tiến hành hoạt động quản lý dân cư và căn cứ vào yêu cầu quản lý, trình độ phát triển, phong tục, tập quán mà mỗi quốc gia sẽ có cách thức quản lý dân cư riêng cho hiệu quả và phù hợp. 13 Công tác quản lý dân cư ở Việt Nam dựa trên việc cấp sổ hộ khẩu cho người đăng ký thường trú và sổ tạm trú cho người đăng ký tạm trú. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, với tốc độ phát triển công nghệ thông tin ngày càng mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dân cư khiến cho việc kết nối thông tin giữa các ngành, lĩnh vực trong việc quản lý dân cư được thuận lợi hơn rất nhiều so với việc quản lý bằng phương thức thủ công; mặt khác, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dân cư còn tạo điều kiện để các cơ quan quản lý nhà nước có thể khai thác, liên thông kết nối và chia sẻ thông tin, dữ liệu phục vụ công tác quản lý.
Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, việc thay thế hình thức quản lý dân cư từ thủ công sang điện tử với mã số định danh cá nhân là cần thiết và tất yếu. Quản lý dân cư là một hoạt động quan trọng trong quản lý nhà nước về xã hội, được thực hiện trên cơ sở pháp luật về cư trú; công tác đăng ký, quản lý cư trú được giao cho cơ quan công an các cấp thực hiện một cách rõ ràng, cụ thể, nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý. Quản lý dân cư là một biện pháp hữu hiệu để nhà nước quản lý xã hội, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Quản lý dân cư có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cụ thể là quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền học tập, quyền làm việc, quyền sở hữu tài sản… Đây là những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.
Tuy nhiên, trình tự, thủ tục đăng ký cư trú hiện nay còn rườm rà, mang tính thủ công và chưa quy định cụ thể, chi tiết ngay trong luật để bảo đảm thống nhất áp dụng. Theo quy định của Nghị quyết số 112/NQ-CP, phương thức quản lý dân cư bằng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã được thay đổi thành quản lý theo mã số cá nhân được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân số. Để đáp ứng yêu cầu của hình thức quản lý mới, quy trình, quy định về đăng ký cư trú cho công dân 14 cũng cần được sửa đổi cho phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về cư trú. Theo đó, Điều 32 Luật Cư trú năm 2020 đã quy định cụ thể trách nhiệm quản lý về cư trú từ Trung ương (Chính phủ, Bộ Công an và các bộ, cơ quan ngang bộ) đến Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình sẽ có trách nhiệm cụ thể: “Điều 32.
Trách nhiệm quản lý nhà nước về cư trú 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cư trú trong phạm vi cả nước.