CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về công chức, công chức cấp xã 1. Công chức “Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước.
Quan niệm về công chức không hoàn toàn như nhau ở các nước. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước, có nước quan niệm công chức gồm những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng, trong khu vực công. Ở Pháp, công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công. Có những nước chỉ giới hạn công chức trong cơ quan hành chính nhà nước”.
Nhìn chung, các nước trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống nhau trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nước. Khái niệm về công chức được làm rõ, có sự phân biệt rõ ràng về đối tượng, quy định tại Khoản 02, Điều 01, Luật sửa đổi bổ sung Luật Cán bộ, công chức và luật viên chức năm 2019: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ 15 nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước". Như vậy có thể thấy khái niệm về công chức ở Việt Nam hiện nay đặt ra yêu cầu cụ thể công chức phải được bổ nhiệm, tuyển dung vào ngạch, chức vụ, chức danh tương đương với vị trí việc làm, làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, Chính quyền, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ương đến cấp huyện.
Tại đề tài luận văn tập trung vào nội dung nâng cao chất lượng công chức cấp xã. Vì vậy, tác giả sẽ tiếp cận, nghiên cứu khái niệm và phân tích thực trạng về công chức cấp xã, nâng cao chất lượng của công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Công chức cấp xã “Xã” là tên gọi chung của các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam hiện nay. Tại khoản 3, điều 2 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, một trong các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: …Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).
Như vậy có thể hiểu “cấp xã” được dùng để chỉ toàn bộ cấp đơn vị hành chính thấp nhất của Việt Nam, bao gồm cả xã, phường và thị trấn. Công chức cấp xã là những người hiện đang làm việc tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở các xã, phường, thị trấn. Công chức cấp xã có nhiều đặc điểm của Công chức (đều được tuyển dụng, thực thi công vụ, thuộc 16 biên chế và được hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước) tuy nhiên vẫn có sự khác biệt rõ rệt và được quy định tại Khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, khác với công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương đương với vị trí việc làm tại các cơ quan từ cấp huyện trở lên, thì công chức cấp xã là những người được tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã, thừa hành, triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, các nhiệm vụ chính trị mọi lĩnh vực trên địa bàn, được đảm bảo quyền và lợi ích trong quá trình làm việc, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về quá trình thực thi công vụ.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Trước đây, theo quy định công chức cấp xã gồm 07 chức danh (nếu cấp xã đó chưa có công an chính quy). Tuy nhiên quy định mới nhất tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP, ngày 10/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã ở thôn, tổ, dân phố công chức cấp xã còn 06 chức danh: Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự; Văn phòng, thống kê; Địa chính, xây dựng, đô thị và môi trường (với các địa bàn là phường, thị trấn) hoặc địa chính, nông nghiệp, xây dựng và môi trường (với các địa bàn xã); Tài chính, kế toán; Tư pháp, hộ tịch; Văn hoá, xã hội. Về số lượng, công chức cấp xã được quy định rõ tại Điều 6, Nghị định Nghị định số 33/2023/NĐ-CP, ngày 10/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ, được tính theo loại đơn vị hành chính cấp xã cụ thể: Đối với phường: Loại I là 23 người; loại II là 21 người; loại III là 19 người; đối với xã, thị trấn: Loại I là 17 22 người; loại II là 20 người; loại III là 18 người.
Tuỳ vào việc phân loại xã để xác định số lượng chức danh công chức cấp xã được bố trí. Trừ chức danh Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã chỉ được bố trí 01 người thì các chức danh khác đều có thể được bố trí từ 02 người trở lên và không được vượt quá tổng số công chức tương đương với từng loại xã. Công chức cấp xã là những người gần gũi, mật thiết với Nhân dân, thường xuyên chăm lo đến mọi mặt đời sống, cả vật chất và tinh thần của mọi người dân. Chính vì vậy thái độ, hiệu quả hoạt động của họ mang tính quyết định đến lòng tin của người dân đối với hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số, chuyển đổi số cấp xã, hoạt động chuyển đổi số cấp xã 1. Chuyển đổi số “Chuyển đổi số” đang dần trở thành một cụm từ quen thuộc với người dân Việt Nam. Theo bài báo “chuyển đổi số tại Việt Nam” đăng trên tạp chí Kinh tế và dự báo số 32 2021 đã đưa ra một số quan điểm về chuyển đổi số: “Theo Gartner, chuyển đổi số là việc sử dụng các công nghệ số để thay đổi mô hình kinh doanh, tạo ra những cơ hội, doanh thu và giá trị mới. Microsoft cho rằng, chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo những giá trị mới.
Còn theo quan điểm của FPT, chuyển đổi số trong tổ chức, doanh nghiệp là quá trình thay đổi từ mô hình truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)… thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty”. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số .21] 18 Nói tóm lại, dù sử dụng định nghĩa nào thì chuyển đổi số cũng là sự thay đổi, đổi mới phương thức làm việc, sản xuất,… của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân,…. Là quá trình chuyển đổi từ cách sống, cách làm việc truyền thống sang cách sống và làm việc mới dựa trên các nền tảng, công nghệ số (Điện toán đám mây-Cloud, trí tuệ nhân tạo-AI, dữ liệu lớn- Bigdata… các hệ thống nền tảng.), ứng dụng số (các hệ thống thông tin, phần mềm…), nguồn dữ liệu số và sự kết nối của chúng trên không gian số, từ đó tạo ra phương thức mới, những cơ hội và giá trị mới cho hoạt động quản lý, điều hành, phục vụ người dân của Chính quyền; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong đời sống, văn hóa của người dân. Chuyển đổi số là một chuỗi các hoạt động, là một quá trình hoàn chỉnh áp dụng số hóa và ứng dụng số hóa nhưng ở một cấp độ cao hơn để tạo ra phương thức, cách thức làm việc mới.
Chuyển đổi số cấp xã Trong cơ quan nhà nước Chuyển đổi số chính là các hoạt động phát triển chính phủ số của các cơ quan trung ương và tương ứng với đó là hoạt động phát triển chính quyền số, đô thị thông minh của các cơ quan chính quyền các cấp ở địa phương. Chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước tập trung vào phát triển hạ tầng số phục vụ các cơ quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; tạo lập dữ liệu về kinh tế - xã hội phục vụ ra quyết định chính sách; tạo lập dữ liệu mở dễ dàng truy cập, sử dụng, tăng cường công khai, minh bạch, phòng, chống tham nhũng, thúc đẩy phát triển các dịch vụ số trong nền kinh tế; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, cả trên thiết bị di động để người dân, doanh nghiệp có trải nghiệm tốt nhất về dịch vụ, nhanh chóng, chính xác, không giấy tờ, giảm chi phí [2,tr.134] Tương ứng với đó, chuyển đổi số ở cấp xã là hoạt động phát triển chính quyền số trên địa bàn, với 03 trụ cột: Chính quyền số, kinh tế số, xã hội số. Các hoạt động chuyển đổi số ở cấp xã Phát triển chính quyền số là việc chính quyền cấp xã ứng dụng triệt để công nghệ số vào công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của chính quyền, tăng cường minh bạch trong các hoạt động của cấp xã và để phục vụ người dân địa phương tốt hơn.