Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ công chức nhà nước 1. Khái niệm công chức nhà nước và chất lượng công chức nhà nước 1. Công chức nhà nước Các nước khác nhau có quan niệm khác nhau về cán bộ công chức.
Đa số các nước đều giới hạn cán bộ công chức trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ và cấp chính quyền địa phương). Tại Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chức Nhà nước và công chức địa phương: “Công chức Nhà nước gồm những người được nhậm chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách Nhà nước. Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương” (Nguồn: Tô Tử Hạ, Trần Thế Nhuận, Nguyễn Minh Giang, Thang Văn Phúc (1993), Chế độ công chức, Luật công chức các nước trên thế giới, Nxb CTQG, Hà Nội). Tại Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là: "Công chức Nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ.
Công chức gồm hai loại: + Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực Nhà nước. Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. + Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ chiếm đại đa số trong công chức Nhà nước, chịu trách nhiệm quán 9 triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật” (Nguồn: Tô Tử Hạ, Trần Thế Nhuận, Nguyễn Minh Giang, Thang Văn Phúc (1993), Chế độ công chức, Luật công chức các nước trên thế giới, Nxb CTQG, Hà Nội).
Từ những khái niệm về công chức của một số nước như trên, có thể thấy: Công chức là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ hay thừa hành công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước từ trung ương đến địa phương, được hưởng lương từ ngân sách và chịu sự điều hành của Luật Công chức. Ở nước ta, ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, tại Điều I, Mục 1 công chức được định nghĩa là:" Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước”. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh chống ngoại xâm, bản quy chế này không được triển khai đầy đủ và trên thực tế các nội dung cơ bản của nó không được áp dụng. Để phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “cán bộ, công chức” theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 là Đạo luật mang số 22/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, cán bộ và công chức là hai đối tượng khác nhau.
Theo đó, công chức được quy định tại Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 là: Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh 10 đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Phân loại và cơ cấu đội ngũ công chức Nhà nước Việc phân loại cán bộ công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nguồn nhân lực. Quá trình phân loại cán bộ công chức tuân theo các tiêu chí phân loại chung của cả đội ngũ cán bộ công chức. Vì mỗi đối tượng cán bộ, công chức khác nhau có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng khác nhau, có những tiêu chuẩn và yêu cầu khác nhau về trình độ đào tạo nghề nghiệp chuyên môn.
Việc phân loại cũng là một cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng các nhu cầu đào tạo đó. Điều này giúp cho việc xây dựng quy hoạch đào tạo công chức đúng đối tượng theo yêu cầu nội dung, công tác, đưa ra những căn cứ cho việc xác định biên chế một cách hợp lý và là tiền đề cho việc đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong việc tuyển dụng công chức, xác định cơ cấu tiền lương hợp lý. Đồng thời còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá, cụ thể hoá việc sát hạch, đánh giá thực hiện công việc của công chức. Phân loại công chức theo vị trí công tác: - Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; - Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Phân loại theo ngạch công chức - Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên - Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương - Công chức ngạch chuyên viên và tương đương - Công chức ngạch cán sự và tương đương - Công chức ngạch nhân viên và tương đương. Chất lượng đội ngũ công chức nhà nước - Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức Nhà nước Theo Từ điển Tiếng Việt thì chất lượng hiểu nghĩa chung nhất là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc”. 11 Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất lượng đối với mỗi người trong xã hội nói chung vốn đã cao thì yêu cầu đối với chất lượng công chức càng cao hơn - đòi hỏi người cán bộ, công chức có những phẩm chất theo yêu cầu như nêu ở trên thì người cán bộ phải gương mẫu, tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Mỗi công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, quan niệm về chất lượng cán bộ, công chức phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng công chức với chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của cả đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ.
Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất bên trong của mỗi người và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý, của kỷ luật. Như vậy, có thể nói chất lượng cán bộ, công chức gồm: + Chất lượng của từng công chức; cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức; trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng công chức là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ. + Chất lượng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý vì số lượng và độ tuổi bình quân được phân bố trên cơ sở các đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
Từ những quan niệm trên, theo tác giả: chất lượng, công chức là tổng hợp của nhiều yếu tố như trí tuệ, trình độ năng lực, sự hiểu biết, phẩm chất 12 đạo đức, sức khỏe và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. - Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức Nhà nước Đánh giá cán bộ công chức là việc cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng công chức tiến hành đánh giá, phân loại, làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng cán bộ công chức. Có thể đưa ra một số tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng công chức như sau: + Nhóm tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và tình trạng sức khỏe Tiêu chuẩn này biểu hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lí tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đạo đức là một tiêu chuẩn quan trọng đối với công chức, họ phải là người hết lòng trong công việc, vì sự nghiệp phục vụ nhà nước, là công bộc của nhân dân, có đạo đức tốt, có tư cách đúng đắn trong thực thi công vụ. Người công chức trước tiên phải có một lịch sử bản thân rõ ràng, có một lý lịch phản ánh rõ ràng mối quan hệ gia đình và xã hội. Chúng ta chống lại quan niệm cũ kỹ, duy ý chí về thành phần chủ nghĩa, nhưng như thế không có nghĩa là không xem xét đến đạo đức của con người cụ thể biểu hiện trong quan hệ tương tác với gia đình, xã hội và trong lịch sử bản thân.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, người công chức muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân viên và trước lãnh đạo, trước hết phải là người công chức có phẩm chất đạo đức tốt.