Chương 1: Những vấn đề lý cơ bản về nguồn nhân lực và vấn đề luâṇ đào bồ i dưỡng nguồn nhân lực trong bô ̣• máy nhà nướ c. taọ Chương 2: traṇ g ngũ cán bô ̣• , công chứ c hành chính trên địa Thưc̣• đôị bàn 6 và những vấn đề đặt ra. quâṇ Chương 3: Quan điểm , mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất g ng ũ cán bộ công chức hành chính trên địa bàn quận 6 lươṇ đôị giai đoạn 2011 – 2015. Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1.1 Nhƣ̃{ ng vấ n đề lý cơ bả n về nguồn nhân lực luâṇ 1.1 Khái niệm, cơ cấ u và vai trò củ a nguồn nhân lƣc̣~ 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nói đến nguồn nhân lực, trước hết phải xét đến nhân lực là gì, có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về nguồn nhân lực.
Khái niệm nguồn nhân lực được xem xét và nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể một số quan điểm, đánh giá về khái niệm nguồn nhân lực. Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ 20, được xem xét dưới góc độ là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Chúng ta thấy rằng nguồn nhân lực là nguồn lực con người.
Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nhất định tại một thời điểm nhất định. Còn nếu phân tích nhân lực dưới góc độ từ và ngữ, nhân lực là danh từ, là từ Hán Việt trong đó nhân là người, lực là sức. Và trong phạm trù sức người lao động cũng chứa một nội hàm rất rộng. Nếu dừng lại ở các bộ phận cấu thành đó là sức óc, sức bắp thịt, sức xương.
thì sức thể hiện thông qua các giác quan mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, da cảm giác… Còn chất lượng của sức lao động, đó là trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ lành nghề… Cùng đánh giá vai trò quan trọng của yếu tố con người, vì thế nét nổi bật trong tư tưởng kinh tế của Karl Marx là yếu tố con người với tư tưởng chủ đạo, chỉ có lao động mới tạo ra giá trị, nguồn gốc duy nhất của mọi của cải trong xã hội. Tư tưởng này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó cho thấy tiến bộ kỹ thuật không hề làm giảm ý nghĩa của yếu tố con người mà ngược lại, cùng với quá trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, con người cùng với tiềm năng trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng. Còn đối với nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực.
Theo Giáo sư Viện sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, có thể thấy khái niệm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn có cả nguồn nhân lực tương lai. Từ những sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con người bao gồm thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế, xã hội nhất định. Ngoài ra, nếu xét theo nghĩa rộng, tổng thể nền kinh tế được coi là một nguồn lực thì nguồn lực con người (Human Resources) là một bộ phận của các nguồn lực trong nền sản xuất xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (Financial Resources)… Nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 trong đó xác định “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”.
(Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011) Và một trong các khâu đột phá mà chiến lược xác định là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ.2 Cơ cấ u nguồn nhân lưc̣A Cơ cấu nguồn nhân lực (còn gọi là cơ cấu lao động) trong một tổ chức là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng của các loại nhân lực trong một tổ chức. Một cơ cấu lao động hợp lý là nhân tố đảm bảo để tổ chức thực hiện tốt mục tiêu của mình. Thứ nhất, cơ cấu nguồn nhân lực theo chức năng là cơ cấu nguồn nhân lực trong một tổ chức gồm các viên chức quản lý và nhân viên thừa hành. Thứ hai, cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ chuyên môn: là loại cơ cấu được quan tâm nhất vì thể hiện mặt chất lượng của nguồn nhân lực.
Thường cơ cấu này được phân tích theo các tiêu thức: sơ cấp, trung cấp, đại học, trên đại học. Bên cạnh đó, người ta còn quan tâm đến cơ cấu nhân lực theo tuổi và theo giới tính, cơ cấu ngành nghề.3 Vai trò củ a nguồn nhân lưc̣A Thứ nhất, xét vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là tất yếu khi tăng lên về số lượng và chất lượng của sản phẩm thì nguồn lực con người không chỉ làm sống lại các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn sáng tạo ra các tư liệu lao động, trong đó nhân tố cốt lõi là công cụ lao động, những đối tượng lao động mới, chưa từng có trong tự nhiên. Vì vậy, khi phân tích các yếu tố của quá trình sản xuất và mối quan hệ giữa chúng trong tiến trình tăng trưởng kinh tế giữa các yếu tố cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Điều đặc biệt là trong các nguồn lực nội sinh; nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật thì nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh đóng vai trò quyết định, chi phối các nhân tố khác trong quá trình tăng trưởng. Sở dĩ như vậy, bởi so với các nguồn lực khác thì đây là nguồn lực “sống”, nó không chỉ làm sống lại các tư liệu sản xuất mà còn sáng tạo ra các tư liệu lao động và đối tượng lao động mới. Hơn thế với nguồn lực con người là trí tuệ, là chất xám nếu biết đào tạo, bồi dưỡng và vun đắp thì nguồn lực con người là nguồn lực vô tận, không có giới hạn và không bị cạn kiệt như các nguồn tài nguyên khác. Thứ hai, xét vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Nền kinh tế phát triển kéo theo sự gia tăng về số lượng, chủng loại, chất lượng sản phẩm và thay đổi cơ cấu kinh tế. Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế có những đặc điểm riêng của nó, và nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đó là phát triển lực lượng sản xuất trong đó nguồn lao động là nhân tố cốt lõi. Có thể nói nguồn lực con người không chỉ có ý nghĩa đối với sự tăng trưởng kinh tế mà còn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế. Song song đó, nguồn lực con người còn có một ý nghĩa quan trọng trong việc kết hợp các yếu tố tự nhiên và cải tạo tự nhiên để tạo ra của cải có ích cho con người và xã hội.
Chính vì vậy sự phát triển về kinh tế, xã hội của một quốc gia đều do con người và con người được đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển nhanh, bền vững. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự phát triển về mọi mặt của đời sống kinh tế và xã hội. Như chúng ta đã biết tổng thể các mặt của quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng của một hình thái kinh tế xã hội, quyết định mối quan hệ giữa người và người. Do vậy khi nguồn lực con người, hay chất lượng nguồn nhân lực càng cao thì ý thức xã hội càng phát triển, khi đó quan hệ giữa người với người sẽ thúc đẩy tốt hơn sự phát triển nhanh và mạnh của xã hội.2 Chất lƣợng nguồn nhân và các yếu tố ảnh hƣởng lƣc̣~ 1.1 Chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay, khi xem xét đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực thì có rất nhiều quan điểm, trong số đó có hai quan điểm phổ biến.
Ở quan điểm thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt trí lực, thể lực, nhân cách, thẩm mỹ và yếu tố kết cấu các mặt đó. Hay nói một cách khác, yếu tố kết cấu được tách riêng khi xem xét nguồn nhân lực. Ở quan điểm thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trên ba mặt, đó là trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ. Điều đó có nghĩa là yếu tố kết cấu đã được bao hàm trong chính nội tại ba yếu tố đó.
Khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ, chúng ta sẽ xem xét, tiếp cận theo quan điểm thứ hai. Vì chất lượng nguồn nhân lực ở đây là của một tập hợp người, bao gồm những người trong độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động có khả năng lao động, thực tế đang làm việc, chưa có việc làm hoặc đang được đào tạo.