phần mở đầu, kết luận, các tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công chức, công chức cấp xã, chất lượng và chất lượng công chức cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng về chất lượng công chức cấp xã huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nh m hoàn thiện về nâng cao chất lượng công chức cấp xã huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số vấn đề lý luận chung về công chức, công chức cấp xã 1. K á m Khái niệm công chức ở nước ta được đánh dấu từ sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành “Quy chế công chức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, trong lời nói đầu có quy định: “Công chức Việt Nam là những công dân giữ một chức vụ trong bộ máy Nhà Nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Chính Phủ”. Đến cuối những năm 1980, thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), khái niệm “công chức” lại được d ng nhiều hơn trong các văn bản pháp luật của nhà nước.
Để phân định ai là công chức, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991. Theo Điều 1 của Nghị định này thì: Công chức nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm, giữ một chức vụ thường xuyên trong một sơ sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch; hưởng lương do ngân hàng nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước [29, Điều 1]. Khi sự nghiệp đổi mới đất nước thu được những thành tựu nhất định thì nhiều vấn đề lớn đã được đ t ra, trong đó có vấn đề cán bộ, công chức Nhà nước .Xuất phát từ thực tiễn đó, theo tinh thần Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII ngày 26/02/1998. Nhưng trong pháp lệnh này không đưa ra định nghĩa cho từng khái niệm “cán bộ”, “công chức” mà chỉ quy định ở Điều 1: “Cán bộ, công chức quy định tại pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
9 Và cho đến nay, khái niệm “công chức” đã được quy định rõ hơn tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức ban hành ngày 13/11/2008, cụ thể như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [30, Điều 4].K á m Theo Luật Cán bộ, công chức, Luật số 22/2008/QH12: Công chức cấp xã được định nghĩa như sau: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [30, Điều 4]. Hiện nay, theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 92/2009/ NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ về chức danh, số lượng, một số chế dộ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách thì công chức xã có các chức danh sau: + Trưởng Công an; + Chỉ huy trưởng Quân sự + Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường thị trấn) ho c địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) ; 10 + Tài chính - kế toán; + Tư pháp - hộ tịch; + Văn hóa - xã hội; Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý; là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại UBND cấp xã được tuyển dụng giao giữ chức danh theo chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo. Để nâng cao chất lượng công chức cấp xã không những cần phải có bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ. Đặ đ ểm ủ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cấp xã là cấp gần gũi với dân nhất, là nền tảng của hành chính; cấp xã làm được thì mọi việc điều xong xuôi” [28, tr.
Công chức cấp xã là cấp trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, hiểu được những nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng…, của người dân và do đó họ có điều kiện thuận lợi nhất trong việc thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, cũng như việc tham gia quản lý Nhà nước một cách thiết thực, cụ thể nhất. Vì thế mà đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức triển khai, đưa Nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, xây dựng và củng cố chính quyền địa phương vững mạnh. Hàng ngày tiếp xúc để giải quyết các công việc liên quan đến quyền lợi của nhân dân nên công chức cấp xã phải là người nắm vững đường lối chính sách của Đảng, các quy định pháp luật của Nhà nước, để không chỉ đảm bảo trong công việc đạt hiệu quả mà còn phải hướng dẫn, giải thích cho nhân dân hiểu và làm đúng pháp luật. Nếu công chức cấp xã không hiểu pháp luật, ý thức chấp 11 hành kém hay coi thương pháp luật, sẽ giải quyết công việc không đúng pháp luật, dẫn tới hậu quả làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cấp xã.
Hoạt động quản lý của đội ngũ công chức cấp xã, là hoạt động đa dạng, phức tạp. Môi trường hoạt động, giao lưu với các đối tượng rất rộng, công việc ở xã là “thượng vàng hạ cám” người công chức ở cấp xã là “người làm dâu trăm họ”, “làm đầy tớ cho mọi nhà”, họ phải lo giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, giáo dục… Chất lượng công chức cấp xã nói chung đa số đều chưa được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp. Bên cạnh đó, họ thường xuyên bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục, tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sác riêng đ c th của địa phương. Nên chất lượng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay chưa đạt yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của dân, do dân và vì dân.
ị trí v trò ủ Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã từng nêu cao vai trò của người cán bộ. Lênin chỉ rõ “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không tạo ra được trong hàng ngũ của mình, những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào” [36,tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đ c biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề then chốt, Người chỉ ra r ng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đ t chính sách cho đúng” [27,tr.
Vị trí của người cán bộ, công chức nói chung và công chức cấp xã là “cầu nối” giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân. Do vậy, họ có vai trò rất quan trọng trong việc quán triệt các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp 12 luật của Nhà nước, biến nó thành thực tiễn của cuộc sống. Đồng thời, là cơ sở để đánh giá sự tín nhiệm của nhân dân đối với Đảng, với Nhà nước. Ngoài ra, họ có vai trò quan trọng trong việc nắm bắt tình hình, phản ánh ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với Đảng và các cấp chính quyền cao hơn.
Xác định vai trò của người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muốn việc thành công hay thất bại điều do cán bộ tốt hay kém” [28,tr. Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là cán bộ. Cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng. Lênin chỉ rõ: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào được quyền thống trị nếu không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, người đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[36,tr.
Năm 1922, khi đã giành được chính quyền, Lênin khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm ra những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt, nếu không thể thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn” [37,tr. Cán bộ, công chức cơ sở nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng, là nguồn nhân lực trong bộ máy chính quyền cơ sở ở nước ta. Do tính chất và nhiệm vụ được giao, đội ngũ công chức chuyên môn cấp xã phải thường xuyên tiếp xúc với dân, trực tiếp lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân.