Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Công chức là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền hành chính nhà nước, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn xây dựng một bộ máy hành chính nhà nước phát triển đều chú trọng xây dựng một đội ngũ công chức có chất lượng. Trong khoa học hành chính, thuật ngữ công chức được tiếp cận nhiều cách khác nhau, theo đó “công chức” thường được hiểu một cách khái quát là những người được Nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do Nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ Nhân dân, phục vụ Nhà nước theo các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, phạm vi xác định công chức lại khác nhau đối với mỗi quốc gia phụ thuộc vào thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước và lịch sử văn hóa, quốc gia mỗi dân tộc. Ở nước ta, thuật ngữ “cán bộ, công chức” được sử dụng khá phổ biến như một khái niệm thống nhất, tuy nhiên nội hàm của nó không giống nhau qua các thời kỳ. Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về cán bộ, công chức. Điều 1, Pháp lệnh quy định quy định: “Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [43, tr.
Tuy nhiên, ở khái niệm trên, vẫn chưa phân biệt rõ ràng giữa “cán bộ” và “công chức”; đến khi Luật Cán bộ, công chức ra đời thì các khái niệm về “cán bộ”, “công chức” và “cán bộ, công chức cấp xã” mới dần được phân biệt 9 rõ ràng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng từng đối tượng cán bộ, công chức. Tại khoản 2, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 xác định: Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [44]. Khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 xác định “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [44, tr. Tại điểm 2, điều 3, chương II, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thì công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng quân sự; - Văn phòng - Thống kê; 10 - Địa chính - xây dựng - đô thị - môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch.
Tùy theo loại đơn vị hành chính (cấp xã loại 1, loại 2, loại 3) mà số lượng công chức cấp xã được phân bổ cho phù hợp và dao động từ 21 đến 25 biên chế. Khác với công chức cấp huyện, cấp tỉnh, mỗi chức danh công chức cấp xã chỉ được phân bổ từ 01 đến 02 biên chế nhưng phải thực hiện tất cả các nhiệm vụ được giao ở từng lĩnh vực cụ thể như tài chính - kế toán, tư pháp - hộ tịch… nên đòi hỏi ở công chức cấp xã trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí công việc và nhiều kỹ năng cần thiết khác để phục vụ nhiệm vụ. Như vậy, công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào làm việc tại Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; được phân công đảm nhận một chức danh công chức và thực hiện việc tham mưu cho chính quyền cấp xã các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực, chuyên ngành phụ trách; công chức cấp xã là lực lượng gần dân, sát dân nhất, là cầu nối giữa chính quyền cơ sở với nhân dân. Đặc điểm công chức cấp xã Từ khái niệm của công chức cấp xã được nêu trong Luật cán bộ, công chức (năm 2008) ta có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản của công chức cấp xã đó là: thông qua việc tuyển dụng trở thành công chức, làm việc thường xuyên tại Ủy ban nhân dân cấp xã, đảm nhận một chức danh cụ thể theo quy định, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cũng giống như công chức nói chung, một trong những đặc trưng hoạt động của công chức cấp xã là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, thông qua hoạt động thực 11 thi công vụ của mình để thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước quy định, phục vụ lợi ích của nhà nước và xã hội. Bên cạnh đó, công chức cấp xã có một số đặc điểm cụ thể sau: - Hoạt động của công chức cấp xã rất đa dạng, mỗi chức danh công chức đảm nhận một số nhiệm vụ nhất định, do đó đòi hỏi công chức cấp xã phải đảm bảo các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực làm việc, khả năng hoàn thành nhiệm vụ và đáp ứng nhu cầu được phục vụ của người dân. - Đội ngũ công chức cấp xã chủ yếu là người dân địa phương, do đó có mối quan hệ gắn bó với cộng đồng dân cư nơi sinh sống, am hiểu và bị ảnh hưởng nhất định về truyền thống, phong tục, tập quán cũng như tình hình phát triển kinh tế xã hội, an ninh chính trị của địa phương; có những thuận lợi trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đặc biệt là việc giải quyết những tình huống phức tạp, những mâu thuẫn phát sinh ở cơ sở. - Công chức cấp xã là những người gần dân nhất, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền với nhân dân.
Họ là người trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc hằng ngày liên quan đến đời sống của nhân dân. Công chức cấp xã là người trực tiếp chuyển tải chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân, đồng thời tiếp nhận những kiến nghị, phản ánh, tâm tư, nguyện vọng của người dân đến chính quyền cơ sở. Vai trò công chức cấp xã Thông qua những đặc điểm cơ bản của công chức cấp xã, ta có thể đấy được công chức cấp xã có một vai trò rất quan trọng trong nền hành chính nhà nước nói chung và chính quyền cơ sở nói riêng. Đội ngũ công chức cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng triển khai, tổ chức thực hiện các đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống và cung cấp dịch vụ 12 công cho người dân, tổ chức.
Vai trò công chức cấp xã thể hiện ở các nội dung sau: - Là người hiện thực hóa sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương. Là người trực tiếp triển khai thực hiện các quyết định của cấp ủy, chính quyền cấp trên, của cấp ủy, chính quyền cùng cấp. Thông qua hoạt động thực thi công vụ của mình, họ vừa là người tuyên truyền, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của cấp trên, vừa là người trực tiếp triển khai thực hiện thông qua việc tham mưu cho lãnh đạo địa phương ban hành các chương trình, kế hoạch với những giải pháp phù hợp với thực tiễn của địa phương. - Trong hệ thống hành chính nhà nước ta, chính quyền cơ sở xã, phường, thị trấn là cấp thấp nhất, gần dân nhất; vì vậy, công chức cấp xã là người thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tiếp nhận, giải quyết hoặc đề xuất giải quyết các ý kiến, kiến nghị, vướng mắc của người dân nhất.
Do đó, sự đánh giá, nhìn nhận của người dân đối với chính quyền một phần không nhỏ phụ thuộc vào thái độ, hành vi, trách nhiệm của công chức cấp xã trong quá trình thực thi công vụ. - Cũng giống như đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính nhà nước, là yếu tố quyết định đến thành công của nhiệm vụ quan trọng này. Những quy định về tiêu chuẩn công chức cấp xã - Tiêu chuẩn chung: Công chức cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung quy định tại điều 3 Nghị định 112/2011/NĐ-CP, ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn: + Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. 13 + Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
+ Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao. + Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác. + Có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước (đối với chức danh công chức Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã).