phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế. Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế ở thành phố Ninh Bình. Chƣơng 3: Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế ở thành phố Ninh Bình. 11 z CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ 1.
Những vấn đề lý luận chung về chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nƣớc về kinh tế. Khái niệm, phân loại cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế. * Khái niệm cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế. Cán bộ, công chức là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một quốc gia quan niệm về cán bộ, công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau.
Sau đây là một số quan niệm và định nghĩa cán bộ, công chức có tính đặc trưng. Theo luật Công chức của Cộng hòa Pháp, công chức nhà nước được định nghĩa: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý. Luật Công chức Vương quốc Anh, ngay từ năm 1859, đã quy định công chức nhà nước bao gồm hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là những người do nhà vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự. Bộ phận thứ hai là những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hiệp hoặc từ các khoản được Quốc hội thông qua.
Luật công chức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho rằng: “Những nhân viên trong ngành hành chính của chính phủ được gọi chung là công chức”. Luật công chức Liên bang của Cộng hòa Liên bang Đức quy định cụ thể về công chức nhà nước như sau: Những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra trực tiếp của Liên bang là công chức Liên bang, những người phục vụ ở các đoàn thể xã hội, 12 z đoàn thể xây dựng vật chất và tài chính theo luật chung, trực tiếp lệ thuộc Chính phủ Liên bang là công chức gián tiếp. Tất cả các thành phần trên đều gọi là công chức. Ngoài các thành phần thuộc phạm vi trên, công chức trong quốc hội Liên bang, Thượng viện Liên bang, Tòa án Liên bang cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật công chức.
Từ những quan niệm về công chức của một số quốc gia nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng công chức thường được hiểu một cách chung là những công dân, được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của Luật công chức. Ở Việt Nam, khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành quy chế công chức, theo quy chế này công chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do chính phủ quy định”. Như vậy, công chức chủ yếu là những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương. Đội ngũ cán bộ đoàn thể, những người làm việc trong bộ máy chính quyền, đoàn thể địa phương không phải tất cả đều là công chức, thuộc phạm vi điều chỉnh của sắc lệnh, nhưng do hoàn cảnh đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh liên tiếp và kéo dài nên những nội dung quy định trong sắc lệnh không được thực hiện đầy đủ và trong thực tế thời gian này người ta thường dung khái niệm cán bộ để chỉ những người làm việc trong biên chế nhà nước nói chung.
Tuy vậy, sắc lệnh này đã tạo tiền đề, cơ sở để hình thành và phát triển đội ngũ công chức Việt Nam. Những năm đầu thập niên 80, khái niệm công chức được xác định lại theo Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1985. Điều 15 - Nghị định này quy định, Công chức là “công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước 13 z hay nước ngoài đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” Ngày 26/02/1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh cán bộ, công chức và có hiệu lực từ ngày 01/05/1998. Sự ra đời của Pháp lệnh cán bộ, công chức đã tạo cơ sở pháp lý cho chế độ công chức nhà nước Việt Nam từng bước được xây dựng, hoàn thiện và phát triển để đáp ứng yêu cầu của một nhà nước pháp quyền XHCN.
Trước yêu cầu không ngừng phát triển, hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đến nay Pháp lệnh cán bộ, công chức đã hai lần sửa đổi bổ sung, lần thứ nhất vào ngày 28/4/2000, lần thứ hai vào ngày 29/4/2003 và ngày 09/12/2008 Quốc hội ban hành Luật cán bộ, công chức, Luật có hiệu lực thi hành từ 01/01/2010. Theo điều 4 luật cán bộ, công chức khái niệm cán bộ, công chức được nêu như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị 14 z sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Từ khái niệm trên, có thể hiểu cán bộ, công chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế là bộ phận cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan về kinh tế.
Họ là đội ngũ lao động quản lý, nhưng trực tiếp trong các lĩnh vực quản lý kinh tế. Cán bộ, công chức quản lý kinh tế có thể coi là những người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo điều hành để gián tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Do vậy, quản lý nhà nước về kinh tế trước hết là một nghề có chuyên môn, nghiệp vụ; mặt khác nói đến cán bộ, công chức là nói đến con người và phải được đặt trong mối quan hệ xác định: Quan hệ đường lối, nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ; quan hệ với bộ máy và cơ chế chính sách; quan hệ với thực tiễn hoạt động kinh tế của đất nước, của từng địa phương. * Phân loại cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế.
Phân loại cán bộ, công chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế cũng tuân theo các tiêu chí chung của phân loại cán bộ, công chức. Phân loại cán bộ, công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nguồn nhân lực. Phân loại cán bộ, công chức giúp cho việc xây dựng quy hoạch sử dụng, bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại công chức đúng đối tượng theo yêu cầu nội dung, công tác và đưa ra những căn cứ cho việc xác định biên chế công chức một cách hợp lý. Phân loại cán bộ, công chức hợp lý giúp cho việc đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong việc tuyển dụng người vào làm việc trong các cơ quan nhà nước và là cơ sở để xác định cơ cấu tiền lương một cách khoa học.
Qua việc phân loại công chức còn giúp cho xây dựng các quy định về tiêu chuẩn hóa, cụ thể hóa việc sát hạch, kiểm tra, giám sát, đánh giá năng lực thực hiện công việc của công chức. Thông thường, việc phân loại cán bộ, công chức của Việt Nam được thực hiện theo các tiêu chí như: Theo vai trò, vị trí, theo trình độ đào tạo, theo khả năng chuyên môn nghiệp vụ, theo ngạch bậc và theo phân cấp quản lý hành chính. Cụ thể: - Theo Luật cán bộ, công chức (điều 34) phân loại cán bộ, công chức gồm 02 tiêu chí: 15 z Thứ nhất: Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm cán bộ, công chức được phân loại như sau: + Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; Chuyên viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngành về một lĩnh vực lớn trong hệ thống quản lý nhà nước, giúp lãnh đạo ở cấp bộ, ngành (từ cấp vụ trở lên đối với lĩnh vực có nghiệp vụ có độ phức tạp cao) hoặc giúp lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh (trong các vĩnh vực tổng hợp) về chỉ đạo và quản lý lĩnh vực công tác đó.