CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1. Một số khái niệm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1. Cấp xã Theo quy định tại điều 110 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012, hệ thống chính trị của nước ta được xây dựng theo bốn cấp gồm: Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Như vậy, cấp xã là cấp quản lý thấp nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta. So với các cấp quản lý ở Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh thì quy mô của cấp xã nhỏ hơn nhưng các vấn đề phải giải quyết thường phức tạp hơn do mỗi người dân có nhu cầu, hoàn cảnh, lợi ích khác nhau và họ hành động xuất phát từ lợi ích của họ nhiều hơn lợi ích của hệ thống. “Chính quyền cấp xã có một vị trí rất quan trọng, đó là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, nhằm thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà Nước được triển khai thực hiện trong cuộc sống [16, tr8]”. Cán bộ, công chức CBCC là những người tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời là cầu nối giữa Đảng với nhân dân.
Bởi vì, "cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ 6 giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời đem tình hình của dân chúng mà báo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng [19]". Theo khoản 1, điều 4 luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 (sau đây gọi tắt là Luật CBCC) và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [15, tr. Theo khoản 2, điều 4, luật CBCC quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [15, tr. Như vậy, ở Việt Nam CBCC không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt nam; các tổ chức Chính trị xã hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Cán bộ, công chức cấp xã Khái niệm CBCC xã, thị trấn (cấp xã) được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật CBCC 2008 như sau: 7 Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [15, tr. Cơ cấu cán bộ cấp xã được quy định tại Khoản 3, Điều 61 của Luật CBCC 2008, cán bộ cấp xã có các chức danh sau đây: Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh [15, tr. Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội [15, tr. Đặc điểm, chức năng của CBCC cấp xã - Đặc điểm của CBCC cấp xã CBCC cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ CBCC trong nền công vụ Việt Nam.
Tuy nhiên, do vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã nên đội ngũ CBCC cấp xã có những đặc điểm mang tính đặc thù như sau: Thứ nhất, CBCC cấp xã là người trực tiếp làm việc với người dân. “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ CBCC cấp xã phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành [1, tr 3]”. Thứ hai, CBCC cấp xã thường hội tụ đủ các vai trò khác nhau mà họ phải thể hiện như: công dân; đồng hương, bà con, họ hàng; người đại diện của cộng đồng; đại diện cho Nhà nước. Những vai trò này vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu 8 thuẫn, xung đột trong mỗi hoàn cảnh, ít nhiều có tác động, chi phối hoạt động công vụ của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - Nhà nước.
Thứ ba, “hoạt động thực thi công vụ của CBCC cấp xã mang tính đa dạng, phức tạp. Họ phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân [20]”. Thứ tư, hiện nay trình độ của CBCC cấp xã đã từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về trình độ văn hoá, nhận thức, năng lực thực thi công vụ, đặc biệt là công chức ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Chức năng của CBCC cấp xã CBCC cấp xã là những người làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của UBND cấp xã có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp trên giao [1, tr 6]. CBCC cấp xã là người trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo cấp trên trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân, thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao [1, tr 6]. Chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã 1. Khái niệm về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc [17, tr.
Đây là cách đánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó. Hay một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của 9 sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật [18].
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau với mục đích khác nhau có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về chất lượng đội ngũ CBCC, có thể hiểu chất lượng của đội ngũ CBCC là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân về cung ứng các dịch vụ hành chính. Theo đó chất lượng đội ngũ CBCC có tính ổn định tương đối, có thể cao, hay thấp do tác động của nhiều điều kiện khác nhau, nó luôn biến đổi, phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ, chịu sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người CBCC. Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu, chất lượng đội ngũ CBCC là tổng hoà các yếu tố: Thể lực (sức khoẻ, độ tuổi), trí thức (kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ); tâm lực (phẩm chất chính trị, ý thức, kỷ luật.) của đội ngũ CBCC, thể hiện qua quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu phát triển bản thân cũng như mục tiêu hành động chung của tập thể.