phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý và bồi dƣỡng nguồn nhân lực Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng công tác bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ BỒI DƢỠNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm quản lý Tƣ̀ nƣ̉a sau của thể kỷ XX , có thể thấy sự lan tràn hết sức rộng rãi các sách báo và tài liệu về quản lý. Vâ ̣y quản lý là gì ? Theo giáo trình Quản lý Nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều kiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” và “Quản lý được xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp tác động vào đối tượng để pháp huy khả năng của đối tượng nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội” Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”.Quá trình “lý” bao g ồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đƣa hệ vào thế “phát triển”.
Nhƣ vậy, nhìn chung các khái ni ệm “quản lý” ở trên tuy có khác nhau nhƣng chúng đều có những điểm chung chủ yếu sau: Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, là những tác động có tính định hƣớng. Những tác động này đƣợc phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Tóm lại: “Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Những chức năng cơ bản của quản lý - Chức năng lập kế hoạch: Đây là chức năng cơ bản trong quản lý.
Lập kế hoạch là việc lựa chọn một trong những phƣơng án hành động trong tƣơng lai cho toàn bộ và cho từng bộ phận của mỗi hệ thống quản lý, nó bao gồm sự lựa chọn mục tiêu, xác định phƣơng thức để đạt đƣợc các mục tiêu. - Chức năng tổ chức: Có tính quyết định, vì nếu không tổ chức đƣợc sẽ không quản lý đƣợc. Tổ chức là quá trình sắp xếp, xếp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con ngƣời, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tƣơng tác với nhau một cách tối ƣu. - Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo: Là huy động lực lƣợng để thực hiện kế hoạch, là biến những mục tiêu trong dự kiến thành kết quả thực hiện.
Phải giám sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của hệ đúng tiến trình, đúng kế hoạch. Khi cần thiết phải điều chỉnh, nhƣng không làm thay đổi mục tiêu, hƣớng vận hành của hệ nhằm giữ vững mục tiêu chiến lƣợc đề ra. - Chức năng kiểm tra, đánh giá: Trong công tác quản lý không thể thiếu hoạt động kiểm tra đánh giá. Nhiệm vụ của kiểm tra là nhằm đánh giá thực trạng của hệ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu của toàn bộ kế hoạch đã đạt đƣợc ở mức độ nào.
Kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ra những bài học kinh nghiệm. Nhƣ vậy kiểm tra là chức năng của nhà quản lý; có kiểm tra mà không đánh giá coi nhƣ không có kiểm tra, không có kiểm tra coi nhƣ không có hoạt động quản lý. Các nguyên tắc quản lý Trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục…) mà các yếu tố chủ tố chủ yếu là con ngƣời, các nhà quản lý thƣờng vận dụng các nguyên tắc sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng: Đảng cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền. Vì thế trong quản lý phải bám sát đƣờng lối, chủ trƣơng chính sách của Đảng trong hoạt động bộ máy.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý. Tập trung trong quản lý đƣợc hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống đƣợc tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đƣờng lối chủ trƣơng, phƣơng hƣớng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện. Nguyên tắc này đƣợc thể hiện qua chế độ một thủ trƣởng. Dân chủ trong quản lý đƣợc hiểu là phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong tổ chức, huy động chí lực của họ.
Dân chủ đƣợc thể hiện ở chỗ: các chỉ tiêu, kế hoạch hành động mà đƣợc tập trung tham gia bàn bạc, kiến nghị các biện pháp trƣớc khi quyết định. - Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và thực tiễn: Nguyên tắc này đòi hỏi ngƣời quản lý phải nắm đƣợc quy luật và phát triển của bộ máy, nắm vững quy luật tâm lí của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phƣơng, thực tiễn ngành mình, đảm bảo hài hoà lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo vai trò quần chúng tham gia quản lý, thực hiện tinh thần: Dân chủ, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Quản lý giáo dục, quản lý cơ sở giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên QLGD là một loại hình quản lý xã hội.
Có nhiều quan điểm khác nhau, song các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục ở nƣớc ta đều cho rằng: QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đƣa hoạt động sƣ phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nƣớc quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục. Nhƣ vậy quản lý Nhà nƣớc về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật đƣợc thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lƣợng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: " Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh" [15, Tr 3].
Khái niệm về Quản lý giáo dục (QLGD), cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhƣng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội". Quản lý giáo dục bao gồm: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý và quan hệ quản lý. Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp.
Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trƣờng học. Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa ngƣời học và ngƣời dạy; quan hệ giữa ngƣời quản lý với ngƣời dạy, ngƣời học; quan hệ ngƣời dạy - ngƣời học.Các mối quan hệ đó có ảnh hƣởng đến chất lƣợng bồi dƣỡng, chất lƣợng hoạt động của nhà trƣờng, của toàn bộ hệ thống giáo dục. Nội dung QLGD bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trƣờng học; tổ chức bộ máy quản lý 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực. Nhƣ vậy: "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, cán bộ, kế hoạch hoá.) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng" [13, Tr 93].
Cũng nhƣ các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, QLGD có hai chức năng tổng quát sau: - Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội. - Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, bồi dƣỡng đón đầu tiến bộ kinh tế - xã hội. Nhƣ vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trƣờng để giáo dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế. Từ hai chức năng tổng quát trên, QLGD phải quán triệt, gắn bó với bốn chức năng cụ thể là: - Kế hoạch hoá.
- Chỉ huy điều hành. Hệ thống quản lý giáo dục nhà trƣờng hoạt động trong động thái đa dạng, phức tạp. Quản lý giáo dục là quản lý các mục tiêu vừa tƣờng minh vừa trong mối tƣơng tác của các yếu tố chủ đạo: - Mục tiêu đào tạo, bồi dƣỡng. - Nội dung đào tạo, bồi dƣỡng.
- Phƣơng pháp đào tạo, bồi dƣỡng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lực lƣợng đào tạo, bồi dƣỡng. - Đối tƣợng đào tạo, bồi dƣỡng. - Hình thức tổ chức đào tạo, bồi dƣỡng.
- Điều kiện đào tạo, bồi dƣỡng. - Môi trƣờng đào tạo, bồi dƣỡng. - Quy chế đào tạo, bồi dƣỡng.