Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI 1. Khái niệm về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người 1. Khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của con người Để đưa ra cái nhìn sâu sắc nhất về “tội phạm sức khỏe của con người”, trước tiên chúng ta phải hiểu tổng quát khái niệm của “tội phạm” và “sức khỏe”. Đầu tiên, về tội phạm, tội phạm là một khái niệm cơ bản, quan trọng của khoa học pháp lý.
Khái niệm này để chỉ tất cả những hành vi được luật hình sự quốc gia hoặc quốc tế xác định mà chủ thể thực hiện phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt. Tất cả những hành vi được xem là tội phạm đều mang cùng bản chất xã hội và có những đặc điểm nhất định. Trước hết, tội phạm là một hiện tượng xã hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong pháp luật hình sự do đó là những hành vi trái với chuẩn mực xã hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Bản chất của tội phạm vừa là một hiện tượng xã hội, vừa là một hiện tượng pháp lý [2].
Cụ thể hơn theo pháp luật hình sự Việt Nam, khái niệm tội phạm được nêu ra tại điều 8, khoản 1 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [19]. Đối với khái niệm sức khỏe, sức khỏe được xem là tài sản quý giá nhất của mỗi con người chúng ta và được coi là giá trị chung của nhân loại. Về “sức khỏe”, cũng có nhiều khái niệm được đưa ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đưa ra giải thích 7 dân dã, đơn giản cho cụm từ này: “Khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái thế mới là sức khỏe”.
Còn nhìn nhận dưới giác độ khoa học nghiên cứu, theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là trạng thái sảng khoái về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay tật, không yếu đuối mà ở trạng thái thể chất tốt, trí tuệ phát triển và xã hội lành mạnh” [49]. Một định nghĩa khác của Ủy ban về Nhu cầu sức khỏe quốc gia của Tổng thống Mỹ (1953) đã chỉ ra rằng: “Sức khỏe không phải là một trạng thái, đó là một sự điều chỉnh. Nó không phải một tình trạng mà là một tiến trình. Thích ứng cá thể không chỉ với môi trường tự nhiên mà còn cả với môi trường xã hội” [50].
Đối với Giáo sư người Canada John Last (1997), ông lại đưa ra quan niệm: Sức khỏe là tình trạng thăng bằng giữa con người và môi trường tự nhiên, sinh học, xã hội, thích hợp với chức năng toàn vẹn [51]. Cho dù các khái niệm nêu trên có cách diễn đạt hoàn toàn khác nhau, song nhìn chung, chúng ta có thể hiểu khái quát sức khỏe là trạng thái hoàn chỉnh về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ có bệnh và thương tật, do đó có thể bị xâm phạm bằng hành động hoặc không hành động. Sức khỏe là tài sản riêng của mỗi con người đồng thời cũng là tài sản quý giá chung của cả cộng đồng. Vì vậy, mỗi người đều được quyền tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của mình.
Từ định nghĩa “tội phạm” và “sức khỏe” đã nêu ở trên, một số tài liệu nghiên cứu, bình luận chuyên sâu hiện nay đề cập tới khái niệm về các tội xâm phạm sức khỏe của con người. Tuy nhiên, những nhận định này lại hướng về việc đưa ra khái niệm tổng quát về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người nói chung, có thể kể đến như: GS. Nguyễn Ngọc Hòa quan niệm: “Các tội xâm phạm sức khỏe là những hành vi (hành động hoặc không hành động) có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác” [12]. Trần Thị Quang Vinh quan niệm: “Các tội xâm phạm sức khỏe của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến sức khỏe của con người” [24].
Trần Văn Luyện quan niệm: “Các tội xâm phạm sức khỏe của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến quyền sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người” [16]. Đỗ Đức Hồng Hà quan niệm: “Các tội xâm phạm sức khỏe của con người là hành vi có lỗi, xâm phạm quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người” [9]. Về cơ bản các quan điểm trên đều tiếp cận dưới góc độ pháp lý, đều phản ánh nội hàm khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của con người. Các khái niệm phản ánh được đặc điểm của các tội xâm phạm sức khỏe của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có dấu hiệu lỗi và xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người.
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, dưới góc độ khoa học luật hình sự, các tội xâm phạm sức khỏe của con người là những hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người ở trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác. Hình phạt quy định đối với các tội xâm phạm sức khỏe con người Tại điều 32 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về các hình phạt đối với người phạm tội, bao gồm hai loại là hình phạt chính là hình phạt bổ sung. Hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính.
Hình phạt của mỗi loại tội phạm xâm phạm sức khỏe con người được quy định khác nhau, dựa trên mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe mà suy ra mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Các hình phạt chủ yếu là phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn. Cụ thể như sau: 9 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 – Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017) Về hình phạt, điều luật quy định 6 khung hình phạt khác nhau: - Khung cơ bản: Mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. - Khung tăng nặng thứ nhất: Có mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
- Khung tăng nặng thứ hai: Có mức phạt tù từ 04 năm đến 07 năm - Khung tăng nặng thứ ba: Có mức phạt tù từ 07 năm đến 12 năm - Khung tăng nặng thứ tư: Có mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm - Ngoài ra tại khoản 7 còn quy định hình phạt đối với người chuẩn bị phạm tội với khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 - Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017) Điều luật quy định 2 khung hình phạt: - Khung cơ bản: Phạt tiền và phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm - Khung tăng nặng: Có mức phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136 - Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017) Tại điều 136 Bộ luật Hình sự quy định 3 khung hình phạt đó là: - Khung cơ bản có mức phạt tiền từ 5.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm - Khung tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 03 tháng năm đến 2 năm. - Khung tăng nặng thứ ba: Phạt tù từ 01 đến 03 năm Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137 - Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017) Có 2 hình phạt chính cho loại tội này.
Đối với hình phạt chính có 2 khung hình phạt: 10 - Khung cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến dưới 03 năm - Khung tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. - Ngoài hình phạt chính, điều luật còn quy định hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138 - Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017) Điều 138 Bộ luật hình sự quy định 3 khung hình phạt có mức phạt: - Khung cơ bản: Đối với trường hợp vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.