Chương 1 NẠN NHÂN TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm nạn nhân của tội phạm xâm phạm sở hữu Danh từ nạn nhân thường được sử dụng để chỉ những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Trong Từ điển Tiếng Việt, từ nạn nhân được định nghĩa: “Người bị nạn hoặc người phải chịu hậu quả của một tai họa xã hội hay một chế độ bất công” [69, tr. Trong Đại từ điển Tiếng Việt, từ nạn nhân được định nghĩa: “1.
Người bị tai nạn; 2. Người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến” [41, tr. Theo các định nghĩa trên thì nạn nhân nói chung được hiểu là những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Nạn nhân bao gồm rất nhiều loại khác nhau như nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của thiên tai, nạn nhân bị tai nạn lao động, tai nạn giao thông, nạn nhân tự tử và nạn nhân của tội phạm… So với các nạn nhân của thiên tai, tai nạn, nạn nhân của chiến tranh và nạn nhân của tệ nạn xã hội thì nạn nhân của tội phạm cũng đang ngày càng gia tăng, gây ra những nỗi đau, sự mất mát cho gia đình và xã hội.
Vì vậy nghiên cứu nạn nhân của tội phạm để hạn chế nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm là mục tiêu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Nạn nhân nói chung có thể được hiểu trong phạm vi rộng. Trong phạm vi rộng, nạn nhân có thể là cá nhân (hoặc tổ chức) bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra như: nạn nhân của tội giết người, cướp tài sản hoặc do thiên tai gây ra như: nạn nhân của vụ động đất, sóng thần, bão, lốc xoáy hoặc nguyên nhân khác gây ra như nạn nhân của sự kiện bất ngờ… Tuy nhiên, trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến nạn nhân của tội phạm. Nói đến nạn nhân của tội phạm cần hiểu rằng, không phải bất kỳ tội phạm nào cũng có nạn nhân.
Thực tế cho thấy có những tội có nạn nhân và những tội không có nạn nhân. 9 Trong văn kiện “Các nguyên tắc về tố tụng và chứng cứ” được áp dụng cho tội phạm quốc tế cũng như hoạt động của Tòa hình sự quốc tế thì khái niệm nạn nhân của tội phạm được hiểu như sau: “Nạn nhân của tội phạm là những người phải gánh chịu những thiệt hại do tội phạm gây ra. Nạn nhân của tội phạm cũng có thể là đơn vị hoặc tổ chức bị thiệt hại trực tiếp về tài sản mà những tài sản này được sử dụng cho tôn giáo, giáo dục, nghệ thuật, khoa học, hoặc mục đích từ thiện và cho những di tích lịch sử văn hóa, các bệnh viện và những nơi phục vụ cho lợi ích của nhân loại”. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh là khái niệm này chỉ trình bày về nạn nhân của tội phạm trong phạm vi hẹp đó là nạn nhân của tội phạm quốc tế.
Nhà nghiên cứu tội phạm học nổi tiếng Andrew Karmen trong bài viết “Crime Victims: An Introduction to Victimology” (1990), ông đã nêu khái niệm nạn nhân của tội phạm như sau: “Nạn nhân của tội phạm là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào hoặc bất kỳ thực thể kinh doanh nào bị thiệt hại hoặc mất mát bởi hành vi phạm tội. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về thể chất, tâm lý hoặc kinh tế”. Như vậy, chúng ta có thể thấy nạn nhân của tội phạm không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là cá nhân mà rộng hơn, nạn nhân của tội phạm có thể là tổ chức hoặc bất kỳ thực thể kinh doanh nào. Tuy nhiên, cần hiểu là thực thể kinh doanh có thể là cá nhân hoặc tổ chức theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu rất đa dạng, có thể là thiệt hại về thể chất như thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; thiệt hại về tâm lý như làm nạn nhân khủng hoảng, lo sợ, bất an về tinh thần; thiệt hại về kinh tế như làm nạn nhân bị mất mát tài sản hoặc bỏ khoản tiền đáng kể để khôi phục sức khỏe. Nếu nạn nhân là tổ chức thì thiệt hại có thể là mất mát về tài sản, uy tín thương hiệu của tổ chức bị tổn hại, việc kinh doanh của tổ chức bị đình đốn… Từ sự phân tích trên, có thể hiểu nạn nhân của tội phạm như sau: 10 “Nạn nhân của tội phạm là cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại gây ra thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc một số quyền, lợi ích hợp pháp khác”. Cần phân biệt thuật ngữ “Nạn nhân của tội phạm” với thuật ngữ “Nạn nhân gián tiếp của tội phạm”. Sở dĩ thuật ngữ “Nạn nhân gián tiếp của tội phạm” ra đời, vì các nhà tội phạm học cho rằng, trong một số trường hợp không chỉ là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại mà người khác có mối quan hệ mật thiết với nạn của tội phạm cũng bị hành vi phạm tội tác động đến.
Ví dụ: một người mẹ có đứa con trai duy nhất đã bị giết (nạn nhân của tội giết người). Do quá thương con, người mẹ đã bỏ ăn, buồn phiền và sau đó đã bị suy giảm trí lực dẫn đến mất trí nhớ. Như vậy, người mẹ này cũng đã bị ảnh hưởng bởi hành vi phạm tội gây ra. Trường hợp của người mẹ nói trên được các nhà tội phạm học gọi là “nạn nhân gián tiếp của tội phạm”.
Đa số những quan điểm hiện nay của các nhà nghiên cứu Tội phạm học Việt Nam đều thừa nhận theo xu hướng xác định khái niệm nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng, tức là thừa nhận nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức. Vì vậy, khái niệm nạn nhân của các tội xâm phạm sở hữu cũng không nằm ngoài những đặc điểm chung của khái niệm nạn nhân của tội phạm, chúng ta có thể đưa ra khái niệm mang tính cụ thể hơn về “Nạn nhân của các tội xâm phạm sở hữu là những cá nhân, tổ chức cụ thể bị hành vi phạm tội xâm hại một cách trực tiếp, gây ra những thiệt hại về tài sản, thể chất, tinh thần hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác”. Theo Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì các tội xâm phạm sở hữu quy định các loại hành vi khách quan ở các dạng sau đây: 11 + Hành vi chiếm đoạt tài sản là người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản “của mình”… + Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không giao tài sản do ngẫu nhiên mà chiếm hữu được (ví dụ như: nhặt được, được chuyển khoản nhầm,…) sau khi chủ tài sản hay người quản lý hợp pháp tài sản hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. + Hành vi sử dụng trái phép là vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác mà khai thác giá trị, giá trị sử dụng các tài sản mà không được phép, không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người có chức năng quản lý về nghiệp vụ đối với loại tài sản bị khai thác trái phép đó.
+ Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản là những hành vi được thể hiện thông qua đối tượng tác động làm mất hoàn toàn giá trị, giá trị sử dụng của tài sản (hủy hoại); làm mất giá trị từng phần có thể khôi phục được (làm hư hỏng). + Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước hoặc vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản. Các hành vi xâm phạm sở hữu có thể được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động. Riêng các tội phạm có tính chất chiếm đoạt chỉ có thể được thực hiện bằng hành động.
Cách thức và hình thức chiếm đoạt rất đa dạng và được mô tả, khái quát thành những tội danh cụ thể. Từ các đặc điểm của hành vi khách quan khác nhau như trên, có thể phân loại tội xâm phạm sở hữu thành các loại: - Nhóm tội phạm có tính chất chiếm đoạt, gồm 8 tội danh: + Tội cướp tài sản (Điều 168); + Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); 12 + Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); + Tội cướp giật tài sản (Điều 171); + Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172); + Tội trộm cắp tài sản (Điều 173); + Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174); + Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175). - Nhóm tội không có tính chất chiếm đoạt, gồm 2 tội danh: + Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176); + Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177). - Nhóm tội không có tính vụ lợi, không chiếm đoạt, gồm 3 tội danh: + Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178); + Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179); + Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180).
Có thể hiểu đơn giản các tội phạm xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người đủ độ tuổi chịu trách nhệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại hoặc đe dọạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu. Việc hiểu và nhận thức đúng về các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sở hữu và cách phân loại giúp cho việc xác định đúng tội danh, tránh được sự nhầm lẫn giữa các tội danh. Đặc biệt đối với các cơ quan có thẩm quyền trong điều tra chứng minh tội phạm được chính xác, bảo đảm xử lý đúng pháp luật, đúng người, đúng tội. Cho đến nay, vẫn còn rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nạn nhân của tội phạm.
Mỗi khái niệm của các học giả đưa ra đều nhằm giải quyết những vấn đề nhất định liên quan đến nạn nhân của tội phạm. Các khái niệm nạn nhân theo nghĩa hẹp nhằm xác định phạm vi những cá nhân bị hành vi 13 phạm tội trực tiếp gây thiệt hại. Khái niệm nạn nhân theo quan điểm này gần gũi với cách xác định đối tượng tác động của tội phạm hay người bị hại trong khoa học luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam.