CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỌC TRỰC TUYẾN VÀ MỨC ĐỘ SẴN SÀNG HỌC TRỰC TUYẾN 1.1 Học trực tuyến 1.1 Các khái niệm học trực tuyến Học tập trực tuyến đã trở thành một mô hình học tập phổ biến trên thế giới. Nghiên cứu của Oliver & Towers (2000) đã chỉ ra rằng nếu không có môi trường kết nối và thiết bị phù hợp truy cập phù hợp, sẽ rất khó hoặc không thể thực hiện học tập trực tuyến. Những định nghĩa về học tập trực tuyến thường được gắn liền với yếu tố công nghệ. Rosenberg (2000) chia sẻ một định nghĩa tương tự đề cập đến học tập trực tuyến là sử dụng các công nghệ internet để cung cấp các giải pháp khác nhau cho người học.
Theo Welsh & cs. (2003), học tập trực tuyến sử dụng công nghệ kết nối mạng máy tính trên môi trường internet để cung cấp thông tin và hướng dẫn cho cá nhân có nhu cầu học trực tuyến. Holmes & Gardner (2006) xác định học trực tuyến cung cấp cho chúng ta quyền truy cập vào các tài nguyên, thúc đẩy việc học ở mọi nơi và mọi lúc. Như vậy công nghệ là một điều kiện không thể tách rời khi đánh giá học tập trực tuyến.
Định nghĩa về học tập trực tuyến có thể khác nhau nhưng nhưng đều xoay quanh các vấn đề cơ bản là học tập, công nghệ và kết nối.2 Những lợi ích của học trực tuyến (online learning hoặc e-learning) Theo Elliott Masie, một chuyên gia nổi tiếng trong ngành học trực tuyến, E- learning là “việc áp dụng công nghệ để tạo ra, cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống”. Việc phát triển của Internet, với khả năng giúp học viên tiếp cận liên tục các khóa đào tạo một cách hiệu quả và tiết kiệm, đã tạo nên một giai đoạn mới cho việc dạy và học đạt đến những tầm cao mới mà chưa có công nghệ nào có thể sánh được. Skillsoft, một nhà cung cấp giải pháp học trực tuyến hàng đầu của Mỹ thì cho rằng E-learning có những đặc điểm ưu việt như khóa học có nội dung phù hợp và cập nhật, học viên có thể tiếp cận một cách thuận tiện nhiều khóa học và có thể nghiên cứu nội SVTH: Hoàng Trần Minh Thanh – K52A – Marketing 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt dung ở mọi nơi, việc tập hợp nội dung nhanh chóng, khả năng cung cấp thông tin cho học viên trên khắp thế giới bằng ngôn ngữ của họ và khả năng theo dõi, báo cáo và đánh giá kết quả việc học. Học tập trực tuyến có rất nhiều lợi ích đa dạng và phong phú khi xét ở các góc độ khác nhau: về phía người học, về phía cơ sở đào tạo, về xã hội, v.
Dưới đây đây là một số lợi ích cơ bản: Thứ nhất, học tập trực tuyến giúp người học vượt qua rào cản về không gian và thời gian (Hammonds, 2003; Jun, 2005; Sabella & Hart, 2014). Với hình thức học này, người học có thể đăng ký và theo học bất cứ thời gian nào mình muốn. Học viên có thể học bất cứ lúc nào, tại bất kỳ nơi đâu. Tận dụng được nguồn giảng viên chất lượng cao từ nhiều nơi trên thế giới, nội dung truyền tải nhất quán, phù hợp với yêu cầu của người học.
Thứ hai, học tập trực tuyến giúp cho người học chủ động hơn (Davidson, 2005; Deal, 2002; Hammonds, 2003; Karber, 2003; Taylor, 2003). Người học dễ dàng tự định hướng và tự điều chỉnh việc học tập của bản thân. Việc đăng kí và chứng thực học viên đơn giản và thuận tiện. Người học có khả năng tự kiểm soát cao thông qua việc tự đặt cho mình tốc độ học phù hợp, bỏ qua những phần hướng dẫn đơn giản không cần thiết mà vẫn đáp ứng được tiến độ chung của khóa học.
Đối với học viên, kèm theo việc tăng khả năng tiếp tục đáp ứng được công việc, giảm thời gian học, học viên còn có thể học mọi lúc, mọi nơi, cho phép học viên có thể hoàn thành chương trình đào tạo một cách thuận tiện ngoài giờ làm việc hay ở nhà. Thứ ba, học tập trực tuyến giúp cho người học rèn luyện và phát triển khả năng tự học (Acker, Pearl & Rissing, 2003; Twigg, 2003). Trong suốt quá trình học trực tuyến, học viên phải tự xây dựng kế hoạch học tập, lựa chọn môn học, tài liệu cần thiết, tự thực hiện các yêu cầu của khóa học v.v nhờ thế mà khả năng tự học mỗi ngày một tốt hơn. Thứ tư, học tập trực tuyến làm tăng lượng thông tin một cách rõ rệt, kiến thức thu được rất đa dạng và phong phú (Reeves & Brown, 2002).
Nhờ tính tương tác và hợp tác cao, dễ tiếp cận và thuận tiện, đào tạo trực tuyến tạo một môi trường giao tiếp thuận lợi giữa học viên với giáo viên, giữa học viên với nhau. Khi mọi người được trao đổi với giáo viên và bạn bè trong lớp, họ có thể tiếp thu nhiều thông tin hơn từ các nguồn khác SVTH: Hoàng Trần Minh Thanh – K52A – Marketing 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt nhau. Mặt khác, kết quả đào tạo cũng được tự động hóa và được thông báo nhanh chóng, chính xác, khách quan. Thứ năm, rút ngắn thời gian đào tạo (Deal, 2002; Jun, 2005).
Học viên tận dụng được mọi thời gian rảnh rỗi, giảm thiểu thời gian rời khỏi văn phòng hoặc gia đình. Cơ sở đào tạo cũng dễ dàng kiểm soát thời gian thực hiện khóa học. Thứ sáu, Chi phí cho việc học tập được giảm thiểu: chi phí cho người học, chi phí cho tổ chức và quản lý đào tạo (Appana, 2008; Coyner & McCann, 2004; Sabella & Hart, 2014). Nội dung khóa học có thể sử dụng lại được với các học viên khác nhau.
Cắt giảm được chi phí in ấn, xuất bản và phân phối tài liệu, lương của giáo viên, chi phí thuê phòng học, chi phí đi lại, ăn ở cho học viên. Tiết kiệm được một khoản tiền lớn do giảm được chi phí đi lại. Theo một số thống kê: thông thường một học viên phải trả cho một khóa học khoảng 5 triệu đồng, thì đối với một khóa học trực tuyến chi phí chỉ vào khoảng 500.000 đồng, nghĩa là chỉ 1/10. Thứ 7, học tập trực tuyến là một mô hình dạy học có hiệu quả cao (Davidson, 2005).
Học trực tuyến giúp học viên và các công ty có học viên không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đáp ứng đúng với nhu cầu của mình. Tỉ lệ học viên hoàn thành khóa học cao hơn. Với cơ sở đào tạo: dễ dàng tạo các khóa học từ các tài nguyên có trước, thu được lợi nhuận nhanh hơn từ các sản phẩm mới, khóa học được cập nhật và triển khai nhanh chóng, liên tục ở nhiều nơi… 1.3 Rào cản khi học trực tuyến Học trực tuyến được xem là một mô hình giáo dục tiên tiến và phát triển với tốc độ ngày càng tăng, tuy nhiên hình thức này vẫn tồn tại những nhược điểm. Nhiều tổ chức giáo dục đẩy nhanh việc ứng dụng học online để đạt được những lợi ích của nó nhưng lại gặp những rào cản rất lớn đối với việc triển khai và áp dụng dẫn đến việc triển khai chương trình học trực tuyến thất bại.
Theo nghiên cứu của Đặng Thị Thúy Hiền về “Nghiên cứu về các yếu tố rào cản khi học online của khoa Du Lịch-Đại học Huế” đã đề xuất ra năm rào cản thường gặp khi học trực tuyến dưới đây: Thứ nhất, rào cản công nghệ là một trong những rào cản lớn đối với việc sử dụng chương trình học trực tuyến. Những rào cản này không những đến từ phía tổ chức mà SVTH: Hoàng Trần Minh Thanh – K52A – Marketing 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt còn từ phía người học. Đối với người học, cần có các yêu cầu phần cứng cơ bản cho chương trình học online như điện thoại, máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay. Do đó, một trong những hạn chế lớn về công nghệ của việc sử dụng chương trình học online là sự sẵn có của phần cứng máy tính.
Theo Renu Balakrishnan và cộng sự công nghệ vẫn có vai trò chính trong việc tạo ra những rào cản đối với việc thúc đẩy học online và sự lan rộng của nó. Thứ hai, rào cản xã hội liên quan đến những lo lắng về chất lượng của học tập online. Việc thay đổi từ các lớp học truyền thống tại các địa điểm trực tiếp sang các lớp học online gây ra nhiều cảm giác lo lắng cho người họ. Thứ ba, rào cản về tâm lý đề cập đến việc sinh viên cảm thấy bối rối, lo lắng hoặc thất vọng và muốn nhận được các phản hồi nhanh hơn từ giảng viên về nội dung, bài tập, nhiệm vụ của lớp học online.
Cảm giác thiếu động lực sử dụng chương trình học online và thiếu tự tin về năng lực và kỹ năng của bản thân về công nghệ là các yếu tố gây cản trở về mặt tâm lý của người học khi quyết định sử dụng chương trình học online. Thứ tư, rào cản về kinh tế, về phía người học, thiếu sự hỗ trợ tài chính từ gia đình là rào cản đối với việc sử dụng chương trình học online. Theo Ali & Magalhaes, công nghệ là cốt lõi của chương trình học và nó rất đắt tiền được xem là một trong những rào cản đáng kể đối với chương trình học online. Thứ năm, rào cản về tương tác xã hội, theo nghiên cứu của Muilenburg and Berge tương tác xã hội liên quan mạnh mẽ đến sự thích thú khi học trực tuyến, hiệu quả của việc học online và khả năng tham gia một lớp học online khác của người học.
Người học có thể gặp khó khăn khi giao tiếp trong các lớp học online, cảm giác thiếu sự kết nối và cảm xúc. Sự khác biệt về tương tác xã hội diễn ra trực tuyến và trực tiếp trở thành mối quan tâm và là rào cản của người học đối với việc học online.2 Khái niệm về mức độ sẵn sàng học trực tuyến Mối quan tâm đến sự sẵn sàng của sinh viên đối với giáo dục từ xa bắt đầu từ giữa những năm 1990 khi Biner, Dean & Mellinger (1994) đã kiểm tra các đặc điểm của người học ở cấp độ đại học được thông qua các khóa học thử. Cùng với sự thay đổi và phát triển của thời đại thì đặc điểm con người với việc học trực tuyến cũng thay đổi theo SVTH: Hoàng Trần Minh Thanh – K52A – Marketing 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt cho phù hợp với sự phát triển đó.