Luận văn mối quan hệ công tố và xét xử theo cải cách tư pháp

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động công tố và xét xử trong bối cảnh cải cách tư pháp Việt Nam hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2014

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về mối quan hệ hoạt động công tố và xét xử trong cải cách tư pháp

Mối quan hệ giữa hoạt động công tốhoạt động xét xử là một trong những trụ cột then chốt trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tùng (2014), mối quan hệ này không chỉ phản ánh tính độc lập, khách quan của các cơ quan tư pháp mà còn là thước đo hiệu quả của hệ thống pháp luật trong việc bảo vệ công lý và quyền con người. Hoạt động công tố, do Viện kiểm sát thực hiện, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong khi đó, hoạt động xét xử do Tòa án đảm nhiệm, mang tính phán quyết cuối cùng trong các vụ án. Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu phải làm rõ ranh giới chức năng, đồng thời tăng cường phối hợp giữa hai hoạt động này để tránh chồng chéo, lạm quyền hoặc bỏ sót vi phạm. Việc xác định đúng bản chất của mối quan hệ này là nền tảng để xây dựng cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực hiệu quả, phù hợp với Hiến pháp 2013 và các chuẩn mực quốc tế về tư pháp độc lập. Các học giả như Lê Hữu Thể và Phạm Hằng Tài cũng nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh đổi mới, cần chuyển từ mô hình “cùng phối hợp” sang “kiểm soát và cân bằng quyền lực” giữa các cơ quan tư pháp.

1.1. Khái niệm hoạt động công tố theo hướng cải cách tư pháp

Hoạt động công tố được hiểu là quá trình Viện kiểm sát thực hiện quyền khởi tố, truy tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Theo luận văn của Nguyễn Thanh Tùng (2014), chức năng này không chỉ mang tính tố tụng mà còn có vai trò giám sát, đảm bảo tính khách quan và công bằng. Trong bối cảnh cải cách tư pháp, hoạt động công tố cần được tách bạch rõ ràng khỏi hoạt động điều tra, đồng thời tăng cường tính độc lập trước cơ quan hành pháp.

1.2. Bản chất pháp lý của hoạt động xét xử trong hệ thống tư pháp hiện đại

Hoạt động xét xử là quyền tư pháp tối cao, do Tòa án độc lập thực hiện. Theo Hiến pháp 2013, Tòa án có quyền xét xử không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Trong tiến trình cải cách tư pháp, hoạt động xét xử cần được nâng cao tính minh bạch, công khai và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ nhưng không can thiệp lẫn nhau giữa Tòa án và Viện kiểm sát.

II. Thách thức trong mối quan hệ hoạt động công tố và xét xử hiện nay

Mặc dù đã có nhiều bước tiến trong cải cách tư pháp, mối quan hệ giữa hoạt động công tốxét xử vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là tình trạng “tư duy phối hợp” còn nặng nề, dẫn đến thiếu tính độc lập giữa các cơ quan tư pháp. Nhiều vụ án oan sai xảy ra do sự thiếu kiểm soát lẫn nhau giữa Viện kiểm sát và Tòa án, như trường hợp ông Nguyễn Thanh Chấn hay ông Huỳnh Văn Nén. Theo Nguyễn Thanh Tùng (2014), nguyên nhân sâu xa nằm ở việc chưa phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan này. Bên cạnh đó, năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp còn hạn chế, dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu nhất quán. Hệ thống pháp luật cũng chưa đủ rõ ràng về vai trò của Viện kiểm sát trong phiên tòa – liệu là “cơ quan buộc tội” hay “người bảo vệ pháp luật”. Điều này gây khó khăn cho Tòa án trong việc đảm bảo tính trung lập. Ngoài ra, áp lực giải quyết án nhanh, chỉ tiêu thành tích cũng làm xói mòn nguyên tắc suy đoán vô tội – một trụ cột của cải cách tư pháp hiện đại.

2.1. Tình trạng chồng chéo chức năng giữa Viện kiểm sát và Tòa án

Trong thực tiễn, Viện kiểm sát đôi khi can thiệp sâu vào quá trình xét xử, gây ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa án. Ngược lại, Tòa án cũng có xu hướng “phụ thuộc” vào cáo trạng của Viện kiểm sát, dẫn đến việc xét xử mang tính hình thức. Đây là hệ quả của mô hình tố tụng “cùng phối hợp” còn tồn tại từ thời kỳ trước cải cách tư pháp.

2.2. Hạn chế về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp

Nhiều cán bộ công tốthẩm phán chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng tranh tụng, phân tích chứng cứ hoặc bảo vệ quyền con người. Điều này làm giảm hiệu quả của hoạt động xét xửhoạt động công tố, đồng thời gia tăng nguy cơ oan sai. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch – vững mạnh là yêu cầu cấp thiết trong cải cách.

III. Phương pháp hoàn thiện mối quan hệ công tố xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp

Để khắc phục những bất cập nêu trên, cần áp dụng đồng bộ các phương pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa hoạt động công tố và xét xử. Trước hết, phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, theo hướng tăng quyền độc lập, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tiếp theo, Viện kiểm sát cần được tái cấu trúc chức năng: tập trung vào vai trò thực hành quyền công tố và kiểm sát, thay vì tham gia sâu vào điều tra. Một giải pháp then chốt là phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan tư pháp trong từng giai đoạn tố tụng, như đề xuất của Phạm Hằng Tài (2006). Đồng thời, cần xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực ngang hàng – nơi Tòa án có quyền bác bỏ cáo trạng nếu thiếu căn cứ, và Viện kiểm sát có quyền kháng nghị nếu bản án vi phạm pháp luật. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý án và minh bạch hóa quy trình tố tụng cũng góp phần giảm thiểu tiêu cực, tăng tính khách quan. Cuối cùng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp theo chuẩn mực quốc tế là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng hoạt động công tố và xét xử trong dài hạn.

3.1. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án theo hướng độc lập

Cần tách Tòa án khỏi sự chi phối hành chính, đảm bảo ngân sách và nhân sự độc lập. Đồng thời, áp dụng nguyên tắc xét xử công khai, tranh tụng – nơi hoạt động xét xử thực sự là trung tâm của tố tụng hình sự, như khuyến nghị trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

3.2. Tái định vị vai trò của Viện kiểm sát trong mối quan hệ với Tòa án

Viện kiểm sát nên tập trung vào chức năng thực hành quyền công tốkiểm sát tư pháp, không can thiệp vào quá trình xét xử. Mô hình “công tố viên buộc tội – thẩm phán trung lập” cần được củng cố để phù hợp với chuẩn mực cải cách tư pháp hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ các sáng kiến cải cách mối quan hệ công tố xét xử

Nhiều sáng kiến cải cách đã được triển khai thí điểm và cho thấy hiệu quả tích cực trong việc điều chỉnh mối quan hệ hoạt động công tố và xét xử. Đơn cử, tại một số tỉnh như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, việc áp dụng phiên tòa tranh tụng thực chất đã giúp Tòa án độc lập hơn trong đánh giá chứng cứ, không phụ thuộc hoàn toàn vào cáo trạng. Viện kiểm sát cũng buộc phải chuẩn bị hồ sơ kỹ lưỡng hơn, nâng cao chất lượng truy tố. Ngoài ra, việc số hóa hồ sơ án và công khai bản án trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao đã tăng tính minh bạch, giúp dư luận và giới chuyên môn giám sát hiệu quả. Các nghiên cứu của Đỗ Văn Dương (2006) và Nguyễn Văn Độ (2008) cũng chỉ ra rằng, khi phân định rõ thẩm quyền và tăng cường trách nhiệm giải trình, tỷ lệ án bị hủy, sửa do oan sai giảm đáng kể. Đặc biệt, sau khi Luật Tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực, nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền im lặng của bị can được tôn trọng hơn, tạo điều kiện cho hoạt động xét xử trở nên công bằng hơn. Những bài học này cần được nhân rộng trên toàn quốc, kết hợp với đánh giá định kỳ để điều chỉnh chính sách phù hợp.

4.1. Kết quả từ thí điểm phiên tòa tranh tụng thực chất

Các phiên tòa tranh tụng thực chất tại Hà Nội và TP.HCM cho thấy hoạt động xét xử trở nên minh bạch hơn, vai trò của luật sư được phát huy, và hoạt động công tố buộc phải nâng cao chất lượng chứng cứ. Đây là bước tiến quan trọng trong cải cách tư pháp.

4.2. Tác động của minh bạch hóa thông tin tư pháp đến mối quan hệ công tố xét xử

Việc công khai bản án và hồ sơ án giúp kiểm soát quyền lực tư pháp hiệu quả hơn. Dư luận và giới học thuật có thể phản biện, từ đó thúc đẩy Viện kiểm sátTòa án tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật, giảm thiểu oan sai.

V. Tương lai của mối quan hệ hoạt động công tố và xét xử trong cải cách tư pháp Việt Nam

Trong giai đoạn tới, mối quan hệ giữa hoạt động công tố và xét xử sẽ tiếp tục được điều chỉnh theo hướng kiểm soát và cân bằng quyền lực, phù hợp với xu thế cải cách tư pháp toàn cầu. Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) đang hướng tới việc tách bạch rõ ràng chức năng, đồng thời tăng cường cơ chế giám sát lẫn nhau. Một xu hướng quan trọng là chuyển đổi số trong tư pháp, nơi dữ liệu án được chia sẻ minh bạch giữa các cơ quan, giúp phát hiện sớm sai phạm. Ngoài ra, việc hội nhập quốc tế cũng thúc đẩy Việt Nam điều chỉnh mô hình tố tụng theo chuẩn mực của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR). Theo Nguyễn Thanh Tùng (2014), để đạt được điều này, cần có cam kết chính trị mạnh mẽ từ Đảng và Nhà nước, cùng với sự tham gia của giới học thuật và xã hội dân sự. Tương lai của cải cách tư pháp không chỉ nằm ở luật lệ, mà ở việc xây dựng một nền văn hóa tư pháp tôn trọng sự thật, công lý và quyền con người.

5.1. Xu hướng chuyển đổi số và minh bạch hóa trong mối quan hệ công tố xét xử

Công nghệ thông tin sẽ giúp hoạt động công tốxét xử kết nối hiệu quả hơn, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc độc lập. Hệ thống quản lý án điện tử giúp theo dõi tiến độ, phát hiện chậm trễ hoặc thiên vị, từ đó tăng cường trách nhiệm giải trình.

5.2. Hội nhập quốc tế và chuẩn mực mới cho cải cách tư pháp Việt Nam

Việt Nam cần điều chỉnh mối quan hệ công tố – xét xử theo hướng bảo vệ quyền con người, như quy định tại ICCPR. Điều này đòi hỏi thay đổi tư duy từ “trừng trị” sang “bảo vệ công lý”, trong đó hoạt động xét xử là trung tâm, còn công tố là một bên tranh tụng bình đẳng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn mối quan hệ giữa hoạt động công tố và hoạt động xét xử theo yêu cầu của cải cách tư pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhà nước Công hoà xã hội chú nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. khững năm qua, Dảng vả Nhà nước ta không ngừng đổi mới, phát triển kinh tế, văn hoả, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyển xã hội chủ nghĩa, phần dầu vì sự nghiệp dân giảu, nước mạnh, xã hội công bằng, đân chủ, văn minh. Dễ thực hiện mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay của Nhà nước là phải đây mạnh công cuộc cải cách tư pháp, chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhằm đảm bảo cho các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riềng hoạt động hiệu quả.

Các quan điển này được tiếp tục khẳng định và phát triển trong các Văn kiện Đại hội Đảng vả các Nghị quyết Trung ương của Đảng ta trong những năm gần dây. Về hoán thiện hệ thống pháp luật và cái cách tư pháp, trong văn kiện Đại hội đại biển Loàn quốc Lan thir VII cua Dang đã chỉ rõ .Iiếp tục xây dựng và hoàn thiên hệ thống các văn bản pháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hệ thông các cơ quan tư pháp trước yêu cầu đổi mới. bảo đảm cho mọi vi phạm đêu bị xử lý, mọi công dân đêu binh đăng trước pháp luật, bảo đấm. quyền làm chú của công dân.

[6] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX cia Hang đã dễ ra các biên pháp tiến hành cải cách tư pháp ở nước ta là: "". Tiếp fực cải cách, kiện toàn, nâng cao chối lượng hoại động của các cơ quan tư pháp theo nguyên lao nang cao tình thần trách nhiệm, làm tối các công tắc điều tra, trượy tổ, xét xử. ” [9] Các yêu cầu của cải cách tư pháp đã dược Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngáy 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thấm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp, xác định Toả án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Dai héi đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI, Dảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nghỉ nhận các nội dung: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa; Hoàn thiện hệ thống pháp luật, Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, đân chủ, nghiêm mình, Đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cái cách tư pháp đến năm 2020, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm, thực hiện cơ chế oông tế gắn với hoạt động diễu tra Theo tinh thần trên, các cơ quan Lư pháp nói chung; Viện kiểm sát nhân dan va Toa án nhân dân nói riêng đã có nhiêu cố gắng trong việc góp phần xây đựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan.

Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật cho thấy việc nhận thức và thể hiện mỗi quan hệ giữa các Cơ quan tư pháp nói chung, Cơ quan thực hiện hoạt động công tổ và Cơ quan thực hiện hoạt động xét xử nói riêng vẫn chưa đúng: Hoặc là quá coi trọng quan hệ phối hợp mả quên đi trách nhiệm chế ước: Quá nặng về chế ước dẫn dến đối dầu, căn chở, gây khó khăn cho nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó là sự chồng chéo về chức nẵng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, chưa có sự phần biệt rảnh mạch giữa các Cơ quan tư pháp nói chưng, Cự quan thực hiện chức năng công tổ và Cơ quan thực hiện chức năng xút xử nói riêng tỳ + Nghiên cửu, đánh giả thực trạng pháp luật hiện hành về mối quan hệ gitta hoạt đồng nồng tổ và xét xử theo yêu cầu cái cách tư pháp. Trên cơ sở đó chỉ ra những tần tại và vướng mắc, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. giữa các cơ quan nảy, + Để xuất những phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thấm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp, xác dịnh ‘Toa án cớ vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm, Viện kiểm sát thực hành quyền công tổ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

Đôi tượng và phương pháp nghiên cứu - Đắi tượng nghiên cửa: Trong khuôn khổ chuyên ngảnh lý luận về lịch sứ nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích một số van dé lý luận và thực trang pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoản thiện tổ chức, bộ mảy các Cơ quan thực hiện chức năng công tổ và xét xử dáp ứng yêu cầu gái cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. - Cơ sở lý luận của luận văn: Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Miác-L.ênin, tư tưởng Hồ Chi Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhả nước và pháp luật liên quan dến tổ chức và hoạt động của các Cơ quan tư pháp nói chung, hoạt động. công tô vả xét xử nói riêng. - Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luân duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, Kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: 8o sảnh, thông kê, điều tra xã hội học.

Điểm mới và những dúng pop cia dé Lai Luận văn là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn w Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chế độ, chính sách dim bảo điều kiện cho cơ quan, cán bộ tư pháp hoạt động hiệu quả 36 1.7 Đối mới và củng cổ mối quan hệ giữa hệ thẳng tư pháp với Nhân dân 36 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP lUẬT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CÔNG TỎ VÀ XÉT XỬ. Khai quát chung về hoạt dộng tổ tụng hình sự 38 22. Mối quan hệ giữa hoạt động công tổ và xét xử theo pháp luật hiện hành 221 Mai quan hệ phối hợp giữa hoạt động công tổ và xét xử 222 Mối quan hệ chế ước giữa hoạt động công tổ và xét xử. Những bắt cập của pháp luận hiện hành về ¡ quan hệ giữa hoạt động công tô và xét xử.

231 Vấn đề truy tổ và rúi truy id 23.2 Vấn dễ trả hỗ sơ dễ điều tra bổ sung 2343 Van dé giới hạn xét xử 234. Van đề khối tế vụ án hình sự. 2345 Van dé Toà án xác dịnh sự thật của vụ án Chương 3: QUAN ĐIỂM VẢ GIẢI PHIÁP IIOÄN TIIỆN MỚI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CÔNG TỔ VÀ XÉT XỬ. Quan điểm hoàn thiện mối quan hệ giữa hoạt động công tế và Xét xử.

76 311 Xây dựng Rhà nước của Nhân dân, da Nhân dân và vì Nhân dân 7ö 3.2 Cải cách tư pháp phải được đặt trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị và hoản thiện bộ máy Nhà nước 80 3. Cải cách tư pháp phải kết hợp chặt chế với cải cách nền hanh chính Nhà nước. 80 pháp, Hà Nội, 2005; Lê Thị Tuyết Hoa: Quyên công tô ở Việt Nam, (Luận án tiến sỹ luật học), Hà Nội, 2002; Nguyễn 'rương Tín: Mi quan hệ giữa tranh tụng trong tỔ tụng hình sự với chức năng xét xử cita Tad dn (Tap tri chuyên ngành), Hà Nội, 2008; Nguyễn Minh Đức: Quyển công tả và tổ chức thực hiện quyên công tô trong nhà nước pháp quyên (Lap chí chuyên ngành), Hà Nội, 2012 Những công trình khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tố chức và hoạt đông của các Cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dan, Toa ản nhần đân nói riêng, Đồng thời đã cỏ một số công trình, Đài viết nghiên cứu về hoạt động công tổ vả hoạt động xét xử trên một số lĩnh vực cụ thể. Các công trình khoa học, các bải viết trên đây là những tải hiệu tham khão có giá trị để nghiên cứu và hoàn thiện để tài luận văn 3.

Mục đích và nhiệm vụ của đề tài - Mạc dịch: Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và yêu cầu của cải cách tư pháp; Luận văn phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thực hiện chức năng công tố và xét xử, mỗi quan hệ giữa hoạt động công tố và hoạt động xét xử, chỉ ra những tổn tại và vướng mắc, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan này trong mối quan hệ trên để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệthống pháp luật liền quan nhằm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thấm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy Cơ quan thực hiện chức năng công tổ và xét xử theo yêu câu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay -~ Nhiệm vụ của luận vấn: Lễ thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau: 1 Phân lích cư sở lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức, bộ máy các Cơ quan thực hiện hoạt động công tế và xét xử, mối quan hệ giữa hoạt đông công tố và xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp 3. Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa hoạt động công tổ và xết xứ 88 3. Sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân đân. Sửa déi Luậttỗổ chức Viên kiểm sát nhân din - 93 3.

Sửa đổi Hộ luậttố tụng hình sự. 99 DANH MUC TAI LIỆU THAM KHẢO - - 101 pháp, Hà Nội, 2005; Lê Thị Tuyết Hoa: Quyên công tô ở Việt Nam, (Luận án tiến sỹ luật học), Hà Nội, 2002; Nguyễn 'rương Tín: Mi quan hệ giữa tranh tụng trong tỔ tụng hình sự với chức năng xét xử cita Tad dn (Tap tri chuyên ngành), Hà Nội, 2008; Nguyễn Minh Đức: Quyển công tả và tổ chức thực hiện quyên công tô trong nhà nước pháp quyên (Lap chí chuyên ngành), Hà Nội, 2012 Những công trình khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tố chức và hoạt đông của các Cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dan, Toa ản nhần đân nói riêng, Đồng thời đã cỏ một số công trình, Đài viết nghiên cứu về hoạt động công tổ vả hoạt động xét xử trên một số lĩnh vực cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ