CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY – CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Khung lý thuyết về rủi ro và hệ thống quản lý rủi ro trong doanh nghiệp: 1. Khung lý thuyết về rủi ro trong doanh nghiệp: Rủi ro là điều mà một tổ chức, một doanh nghiệp không thể tránh khỏi bởi rủi ro phát sinh từ những điều không chắc chắn, không thể lường trước được. Rủi ro thuần tuý là rủi ro chỉ tồn tại hai khả năng: Khả năng bị thiệt hại hoặc Khả năng không bịn thiệt hại.
Theo Hanafi (2006) rủi ro thuần tuý có 3 dạng như sau: - Rủi ro tài sản, vật chất là do một số sự kiện ảnh hưởng xấu đến tài sản, vật chát của tổ chức. - Rủi ro nhân viên đề cập đến rủi ro do nhân viên của tổ chức gặp phải các sự kiện bất lợi. - Rủi ro pháp lý là rủi ro do các hợp đồng kinh doanh không phù hợp với các tài liệu dự kiến và thông tin bị sai lệch. Rủi ro đầu cơ là rủi ro tồn tại 3 khả năng xảy ra có lợi, thiệt hại và không thay đổi.
Các loại rủi ro đầu cơ bao gồm: - Rủi ro thị trường (Market Risk) là rủi ro xảy ra do biến động giá cả hoặc biến động giá trên thị trường. Ngày 01/12/2017, Thông tư 08/2017/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành chính thức có hiệu lực. Theo đó, giám sát ngân hàng là hoạt động của đơn vị thực hiện giám sát ngân hàng trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Rủi ro thị trường là một trong những nội dụng trọng tâm và được định ngĩa tại Điểm b Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT-NHNN cụ thể như sau: Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hoá trên thị trường.
Rủi ro thị trường bao gồm: Tieu luan 8 + Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường đối với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất trên thị trường, sản phẩm phái sinh lãi suất trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. + Rủi ro ngoại hối là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá trên thị trường khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân nước ngoài có trạng thái ngoại tệ. + Rủi ro giá cổ phiếu là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trên thị trường đối với giá trị của cổ phiếu, giá trị chứng khoán phái sinh trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. + Rủi ro giá hàng hóa là rủi ro do biến động bất lợi của giá hàng hóa trên thị trường đối với giá trị của sản phẩm phái sinh hàng hóa, giá trị của sản phẩm trong giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng hóa của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- Rủi ro tín dụng (Credit Risk): + Theo quan điểm Việt Nam “Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN” - Rủi ro tín dụng là khả nằn xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo “Thông tư 02/2003/TT-NHNN” - Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả nằn xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình cam kết. + Theo quan điểm quốc tế: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của định chế tài chính do khách hàng không thực hiện đúng các cam kết trên hợp đồng tín dụng ngoài dự kiến. Tổn thất dự kiến (EL) là những tổn thất có khả năng xảy ra nhưng được ngân hàng dự tính được trước.
Tổn thất ngoài dự kiến (UL) là những tổn thất có khả năng xảy ra nhưng không hoặc chưa được ngân hàng dự tính trước. - Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk): + Khả năng thanh toán là khả năng của một công hoặc cá nhân để thanh toán các khoản nợ của mình mà không bị thiệt hại nghiêm. Rủi ro thanh khoản đến từ nguyên nhân các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí Tieu luan 9 cao để thực hiện nghĩa vụ đó - Theo “Thông tư 08/2017/TT-NHNN qui định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng”. + Rủi ro thanh khoản được đo lường bằng: Tổn thất thanh khoản dự tính = Thâm hụt thanh khoản x Chi phí thanh khoản.
- Rủi ro hoạt động (Operational Risk) + Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2001): Rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các qui trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. Các loại rủi ro: Rủi ro do Qui chế, Qui trình nghiệp vụ; Rủi ro do cán bộ trong tổ chức; Rủi ro do các nguyên nhân khác; Rủi ro do tác động từ bên ngoài; Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin. + Rủi ro hoạt động xảy ra từ trước khi bắt đầu đến tận sau khi kết thúc một quá trình trong doanh nghiệp (Nghiệp vụ kinh doanh, nghiệp vụ hỗ trợ). Quản lý rủi ro hoạt động bao gồm: Thiết lập chính sách, hành động và theo dõi kiểm soát.
Trách nhiệm chính thuộc về các nhà quản lý cao cấp, nhiệm vụ của họ là sẽ phân công công việc cho các bộ phận, đồng thời đảm bảo rằng tiến trình đang hoạt động tốt. Mục tiêu chính là không được để xảy ra tình trạng một bộ phận trong doanh nghiệp vừa xây dựng chính sách, vừa thực hiện, vừa theo dõi kiểm soát. + Các nguyên tắc đo lường rủi ro hoạt động: Khách quan, Thống nhất, Tính khả dụng, Minh bạch, Toàn diện, Đầy đủ. Bốn bước đo lường rủi ro hoạt động bao gồm: Thu thập dữ liệu, Xây dựng bảng đánh giá, Rà soát và xác nhận tính hợp lý của kết quả và Sử dụng kết quả đánh giá.
Khung lý thuyết về hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) ERM có nghĩa là quản lý đầy đủ các rủi ro phù hợp với công ty bằng cách xem xét mối tương quan giữa rủi ro. Thật vậy, quản trị công ty tốt thông qua ERM quản lý rủi ro trong phạm vi khẩu vị rủi ro của công ty để đảm bảo các nguồn lực được phân bổ hợp lý và duy trì việc tạo ra giá trị cho cổ đông. ERM là một phần của quản lý rủi ro công ty cũng như cung cấp tín hiệu cho nhà đầu tư. ERM đưa ra các tín và chuyển giao thông tin từ người quản lý có thông tin tốt đến các cổ đông có thông tin kém.
Như một khái niệm mở rộng ERM có thể được hiểu theo những cách khác nhau từ nghề này sang nghề khác, dựa trên nhu cầu và ưu tiên trong việc quản lý các loại và mức độ khác nhau của rủi ro. Theo Gates (2006), Quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) tự khẳng Tieu luan 10 định nó là mô hình thống trị của quản lý rủi ro doanh nghiệp. Hai thập kỉ qua đã chứng kiến sự gia tăng lớn về nhu cầu đối với ERM và cải thiện quản trị rủi ro doanh nghiệp, áp lực từ bên ngoài công ty đã ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của doanh nghiệp điều đó phản ánh rằng nguy cơ phá sản của công ty đến từ việc chấp nhận rủi ro quá mức. Đặc điểm khác biệt về ERM là nó đại diện cho việc quản lý rủi ro khi được nhìn nhận từ quan điểm của ban giám đốc và hội đồng quản trị của công ty.
ERM không phải là về rủi ro dự án; hoặc rủi ro đầu tư; hoặc bất kỳ rủi ro cụ thể nào. Quan điểm được thực hiện là làm thế nào để quản lý mức rủi ro ròng, tổng hợp của toàn bộ doanh nghiệp và làm thế nào để định hình mức độ sẵn sàng và năng lực của công ty để chấp nhận những rủi ro đó. Theo Smith và Stulz, 1985; Froot, Scharfstein, 1993), các công cụ phân tích của tài chính doanh nghiệp được sử dụng để mô tả vấn đề quản lý rủi ro mà các doanh nghiệp phải đối mặt. ERM được đề xuất là giải pháp do Ban Giám đốc của công ty áp dụng để giải quyết những vấn đề này, xoay quanh vấn đề đại lý và bất cân xứng thông tin trong công ty.
Do những điểm bất thường này, một công ty có thể tham gia vào việc quản lý rủi ro chính thức ngay cả khi không có mâu thuẫn bên ngoài hoặc không sử dụng quản lý rủi ro khi có mâu thuẫn bên ngoài. Do đó, lý thuyết này bổ sung cho lý thuyết quản lý rủi ro doanh nghiệp truyền thống, tập trung vào việc loại bỏ ảnh hưởng của những xích mích tồn tại bên ngoài công ty, chẳng hạn như thuế hoặc các vấn đề hợp đồng giữa công ty và các tác nhân thị trường khác. Tại sao một lý thuyết về ERM lại được mong muốn ngay từ đầu? ERM đôi khi được mô tả là một hiện tượng đang phát triển có thể mất nhiều năm trước khi nó được hệ thống hóa và thực hành một cách nhất quán (Fraser, Simkins và Narvaez, 2015). Theo quan điểm này, có một cuộc tìm kiếm liên tục cho các phương pháp hay nhất mà cuối cùng sẽ giải quyết thành một nhóm các khái niệm và thực hành sẽ cấu thành hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM).
Mặc dù chắc chắn có điều gì đó để nói về việc cho phép các phương pháp thực hành tốt nhất mạnh mẽ phát triển, theo cách giống như Darwin, vấn đề của phương pháp tiếp cận “laissez-faire – Không muốn tham gia hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của người khác” khiến ERM dễ bị thu phục bởi các lợi ích đặc biệt, chẳng hạn như tính phí các chuyên gia tư vấn và năng lực của các tác nhân chính.