chương 1 trình bày một cách tổng quát nhất về nghiên cứu bao gồm: lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, kếu cấu của nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan. Nội dung chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết cơ sở liên quan đến thị trường chứng khoán, tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Nội dung chương 3 trình bày nghiên cứu thực nghiệm về mô hình đo lường mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm: Phương pháp nghiên cứu mô hình, dữ liệu nghiên cứu và các kết quả thực nghiệm phản ảnh mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 4: Kết quả và thảo luận nghiên cứu Nôi dung chương 4 trình bày tổng quan về mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trình bày quy trình nghiên cứu. Các nội dung về phân tích mức độ tác động của các chỉ số kinh tế vĩ mô, chỉ số tài chính thuộc nội tại doanh nghiệp ảnh hưởng đến mối quan hệ trong ngắn hạn và dai hạn giữa tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam được kiểm định dựa trên mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ kết quả thực nghiệm, nội dung chương này trình bày những kết quả chính của mô hình, một số kiến nghị cùng với những hạn chế của nghiên cứu này 5 Tieu luan CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nội dung chương này sẽ trình bày các lý thuyết cơ sở liên quan đến sự phát triển của thị trường chứng khoán, tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ giữa sự phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế. Tổng quan các tình hình nghiên cứu liên quan làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Cơ sở lý luận về phát triển thị trường chứng khoán 2. Khái niệm về chỉ số chứng khoán. Chỉ số giá chứng khoán được theo dõi chặt chẽ và được các nhà kinh tế học quan tâm vì nó có mối liên quan chặt chẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia và thế giới. Mỗi thị trường chứng khoán đều công bố một hoặc một vài chỉ số giá chứng khoán, có thể là chỉ số cho tất cả cổ phiếu trên thị trường của một quốc gia, như chỉ số giá Hang Seng của Hồng Kông, chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp của Hàn Quốc (KOSPI); có thể là chỉ số cho từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá cổ phiếu ngành công nghiệp của Mỹ (DJIA) (Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến, 2009).
Lý Hoàng Ánh và Đoàn Thanh Hà (2005) cho rằng chỉ số giá chứng khoán là chỉ số được dùng để phản ánh sự biến động của giá cổ phiếu niêm yết trên một TTCK nhất định tại một thời điểm so với thời điểm gốc. Chỉ số giá chứng khoán cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư đánh giá và phân tích TTCK, từ đó đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp. Bùi Kim Yến, (2006) cho rằng, giá cả chứng khoán là hình ảnh phản chiếu những vấn đề cơ bản của nền kinh tế vĩ mô, mà đặc biệt là tình hình của doanh nghiệp. Giá cả chứng khoán phản ứng với các tin tức và đầy những sự kiện bất ngờ mà chúng ta khó đoán trước được và cũng là một đại lượng ngẫu nhiên mà người ta không thể nhận dạng được một cách chắc chắn, mặc dù thông tin vẫn được hấp thụ một cách nhanh chóng.
Giá cả chứng khoán là một vấn đề được nhiều nhà đầu tư 6 Tieu luan quan tâm. Nếu xét một cách tổng thể, các yếu tố ảnh hưởng đến biến động giá cả chứng khoán gồm: nội sinh, ngoại sinh và một số yếu tố khác. Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến (2009) cho rằng “Chỉ số giá chứng khoán là chỉ báo giá cổ phiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, thể hiện xu hướng thay đổi của giá cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường”. Các chỉ số giá chứng khoán có thể do sở giao dịch chứng khoán định ra (ví dụ VN- Index), cũng có thể do hãng thông tin (ví dụ Nikkei 225) hay một thể chế tài chính nào đó định ra (ví dụ Hang Seng Index).
Các chỉ tiêu đo lường sự phát triển thị trường chứng khoán Việc đo lường sự phát triển của thị trường chứng khoán được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng, và có nhiều chỉ tiêu đo lường sự phát triển thị trường chứng khoán như đo lường qui mô, kích cỡ thị trường, đo lường tính thanh khoản… (Ross Levine và Zervos, 1996). Phần lớn các nghiên cứu trên thế giới và trong nước như nghiên cứu của Ross Levine và Zervos, 1996); Nguyễn Thị Phương Nhung (2013)… đều tán thành việc đo lường sự phát triển thị trường chứng đều tập trung vào 2 chỉ tiêu chính: (i) Chỉ tiêu thứ nhất là việc đo lường kích cỡ thị trường so với qui mô GDP được thể hiện qua tỷ lệ vốn hóa thị trường; (ii) Chỉ tiêu thứ hai đo lường tính thanh khoản hay tốc độ luân chuyển cổ phiếu. Cụ thể như sau: *Về tỷ lệ vốn hoá thị trường: Đây là biến số giúp đo lường kích cỡ của thị trường bởi kích cỡ thị trường càng lớn thì thị trường càng năng động, càng dễ dàng vận động có hiệu quả trong việc huy động vốn và giảm thiểu rủi ro trên thị trường. Tỷ lệ này sẽ bằng tổng giá trị cổ phần niêm yết chia cho GDP (Ross Levine và Zervos, 1996).
Theo Ross Levine và Zervos (1996) cho rằng việc sử dụng tỷ lệ vốn hoá của thị trường sẽ là một chỉ điểm quan trọng để đo lường sự phát triển của thị trường chứng khoán. Một TTCK hiệu quả sẽ phản ảnh tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai dựa vào giá chứng khoán hiện tại. Lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp lại liên quan đến tỷ lệ tăng trưởng tổng hợp. Do đó cần gia tăng vốn hóa thị trường trước khi muốn gia tăng tăng trưởng kinh tế (King, R.
7 Tieu luan *Về tính thanh khoản hay tốc độ luân chuyển cổ phiếu dùng để đo sự phát triển TTCK. Trong đó tính thanh khoản bằng tổng giá trị giao dịch trên GDP và tốc độ luân chuyển cổ phiếu sẽ bằng giá trị những cổ phần được giao dịch chia cho tổng giá trị vốn hoá của thị trường (Demirguoc-Kunt, A. Tính thanh khoản là một thuật ngữ của đầu tư, liên quan đến khả năng của một loại tài sản dễ dàng được mua bán, trao đổi và chuyển nhượng sao cho có sự chuyển dịch về giá và tối thiểu hoá sự mất mát về giá trị. Thị trường có tính thanh khoản càng cao thì chi phí giao dịch càng ít (Giffin, 1998).
Với một thị trường có tính thanh khoản cao, những nhà đầu tư ban đầu sẽ không mất tiền tiết kiệm của họ trong khoảng thời gian đầu tư của dự án bởi vì họ dễ dàng và nhanh chóng bán cổ phần của mình (Demirguoc-Kunt, A. Vì thế tính thanh khoản giúp đầu tư được dễ dàng trong dài hạn, làm dự án có lợi nhuận khả thi, vì thâes cải thiện việc phân phối tư bản và ảnh hưởng tốt đến tăng trưởng kinh tế (Levine và Zervos, 1996) Tính thanh khoản TTCK sử dụng hai chỉ số. Chỉ số thứ nhất chính là tổng giá trị giao dịch trên GDP(%), nó đo lường giá trị giao dịch cổ phiếu trên qui mô nền kinh tế. Chỉ số thứ hai là tốc độ luân chuyển (Turnover ratio) được đo bằng tổng giá trị giao dịch trên vốn hoá thị trường đo lường giá trị giao dịch cổ phần tương quan với kích cỡ thị trường chứng khoán.
Thị trường càng có tính thanh khoản cao thì các nhà đầu tư càng có cơ hội thay đổi danh mục của mình với chi phí rẻ hơn và nhanh hơn (Agrawalla, R. Vì vậy, tác giả mong đợi tính thanh khoản có tác động tích cực trên vốn hoá thị trường. Cả hai chỉ số đo lường tính thanh khoản này không đo lường trực tiếp những nhà đầu tư dễ dàng như thế nào để có thể mua hay bán cổ phiếu tại một mức giá. Tuy nhiên nó đo lường mức độ giao dịch trong sự so sánh cả kích cỡ thị trường và nền kinh tế.
Vì vậy chúng phản ánh tích cực tính thanh khoản của TTCK trên độ rộng như thế nào của nền kinh tế và TTCK. Có thể sử dụng một trong hai chỉ số này để đo tính thanh khoản của thị trường hoặc sử dụng cả hai chỉ số để bổ sung cho nhau. Ví dụ một nước có giá trị cổ phần được giao dịch/GDP (%) là 1,9% và tốc độ luân chuyển là 210% có nghĩa là thị trường này tuy nhỏ nhưng rất năng động, thanh khoản cao. Ngược lại, một nước khác có giá trị cổ phần được giao dịch/GDP (%) là là 153% 8 Tieu luan nhưng tốc độ luân chuyển là 25% có nghĩa là thị trường thì lớn nhưng thị trường kém năng động và tính thanh khoản kém (Võ Thị Hà Hạnh, 2010).
Hơn nữa, tính thanh khoản thị trường là một trong những chức năng cần thiết nhất của TTCK, nó giúp các nhà đầu tư, đầu tư vào và rút các khoản đầu tư ra khi cần thiết, điều đó tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Demirguc-Kunt & Ross Levine (1995) cho rằng tính thanh khoản đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế bởi một TTCK có tính thanh khoản tốt, nhiều khoản đầu tư dài hạn sẽ không thể kỳ vọng lợi nhuận trong tương lai bởi những NĐT không sẵn lòng giữ lại khoản đầu tư của họ trong dài hạn. Các nhà nghiên cứu Demirguc-Kunt & Ross Levine (1995), Ross Levine và Zervos (1996), đều cho rằng tính thanh khoản TTCK dự đoán được tỷ lệ tăng trưởng tương lai của nền kinh tế. Ngược lại, thị trường vốn có tính thanh khoản cao cho phép NĐT dễ dàng bán cổ phần của họ, cho phép các công ty tăng vốn dễ dàng.
Thị trường có tính thanh khoản cao giúp cải thiện việc phân phối nguồn vốn và nâng cao khả năng triển vọng cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Ross Levine và Zervos, 1996). Demirguc-Kunt và Levine (1995) chỉ ra rằng tính thanh khoản cao sẽ quyết định tăng trưởng thông qua ít nhất 3 kênh: (i) Kênh thứ nhất là lợi nhuận gia tăng đến các khoản đầu tư, tính thanh khoản TTCK càng lớn sẽ giảm tỷ lệ tiết kiệm thông qua thu nhập và hiệu ứng thay thế.