Chương 1 giới thiệu về nghiên cứu được trình bày như trên. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và sức khỏe ngân hàng, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương 3 mô tả dữ liệu, các biến trong mô hình và phương pháp ước lượng mô hình. Chương 4 trình bày kết quả ước lượng mô hình, phân tích kết quả, trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Phần còn lại trình bày những kết luận và đưa ra các khuyến nghị chính sách giúp cải thiện và nâng cao sức khỏe của các ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2 QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG VÀ SỨC KHỎE NGÂN HÀNG Định nghĩa sức khỏe ngân hàng và đo lường sức khỏe ngân hàng 2. Định nghĩa sức khỏe ngân hàng Sức khỏe ngân hàng là một khái niệm thường dùng để thể hiện sức chịu đựng của ngân hàng trước những sự kiện bất lợi. Ngày nay, sức khỏe ngân hàng trở thành một vấn đề quan trọng đối với các nhà quản lý.
Một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh được Lindgren và cộng sự (1996) định nghĩa là một hệ thống trong đó hầu hết ngân hàng đều có khả năng trả được nợ. Khả năng trả được nợ phản ánh ngân hàng có giá trị ròng dương, được đo lường bằng chênh lệch giữa giá trị tài sản và giá trị nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán. Greenspan (1998) cũng định nghĩa sức khỏe của ngân hàng thể hiện xác suất ngân hàng bị mất khả năng chi trả các khoản nợ của nó. Ngân hàng có xác suất mất khả năng thanh toán càng nhỏ thì sức khỏe của ngân hàng càng tốt.
Khả năng còn có thể trả nợ của ngân hàng phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng, hiệu quả quản trị và sử dụng vốn để có thể trụ vững trước những sự kiện bất lợi. Nếu ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ tạo ra thua lỗ, dẫn đến mất khả năng chi trả các nghĩa vụ nợ. Đo lường sức khỏe ngân hàng Sức khỏe ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và ổn định kinh tế. Do đó, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu về thị trường tài chính luôn quan tâm tới việc đo lường, đánh giá sức khỏe ngân hàng.
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xây dựng một chỉ số hay bộ chỉ số đánh giá sức khỏe ngân hàng, xây dựng mô hình cảnh báo sớm nguy cơ vỡ nợ của ngân hàng. Trong đó, chỉ số Khoảng cách vỡ nợ (Distance to Default) được sử dụng rộng rãi trong các báo cáo về ổn định tài chính (De Nocoló và cộng sự, 2005). Khoảng cách vỡ nợ đồng biến với tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản và mức độ vốn hóa và nghịch biến với sự biến động của tài sản. Các nghiên cứu tiếp cận chỉ số Khoảng cách vỡ nợ theo hai hướng.
Thứ nhất là tính theo giá trị thị trường của tài sản và vốn chủ sở hữu, thường được gọi là chỉ số DD theo mô hình của Black and Scholes (1973) và Merton (1974). Thứ hai là phương pháp dựa trên giá trị tài sản, vốn, lợi nhuận được báo cáo trong bản cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo đề xuất của Roy (1952), LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- khi đó chỉ số Khoảng cách vỡ nợ thường được kí hiệu là z_score. Cách tiếp cận thứ nhất sử dụng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu để tính chỉ số DD, cụ thể là dữ liệu giá thị trường hàng ngày của cổ phiếu kết hợp với báo cáo tài chính hàng năm sẽ được dùng để tính giá trị thị trường và sự biến động của tài sản. Ưu điểm của việc dùng giá thị trường cổ phiếu là nó có thể tổng hợp các thông tin phân tán trong các tác nhân thị trường khác nhau và có thể đánh giá rủi ro hướng đến tương lai.
Tuy nhiên, hướng tiếp cận này dựa trên những giả định cổ phiếu ngân hàng phải được giao dịch trong thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và thanh khoản tốt (Taramisa và Igan, 2007). Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động không thực sự hiệu quả và kém minh bạch (Nguyễn Thị Loan, 2011). Thêm vào đó, chỉ mới có 9/37 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có cổ phiếu được niêm yết giao dịch trên sàn chứng khoán (Thanh Thúy, 2015). Do đó đề tài sử dụng cách tiếp cận thứ hai để tính chỉ số Khoảng cách vỡ nợ z_score.
Cũng như DD, chỉ số z_score ngày càng được sử dụng phổ biến để đo lường sức khỏe của ngân hàng (Igan và Pinheiro, 2011; Harada, Ito và Takahashi, 2010). Chỉ số Khả năng vỡ nợ được tính theo công thức: 𝑘+µ 𝑧_𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒 = σ Trong đó: z_score là chỉ số đo lường khả năng vỡ nợ k: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản bình quân (%) µ: tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng trên tổng tài sản bình quân (%), được tính bằng trung bình lợi nhuận trên tổng tài sản trong 3 năm, t, t-1, t-2 σ: độ lệch chuẩn lợi nhuận trên tài sản bình quân, thể hiện sự biến động của lợi nhuận. σ của năm t được tính từ sự biến động lợi nhuận trong 3 năm, bao gồm năm t, t-1, t- 2 (Laere, Vantieghem và Baesens, 2012). Z_score đo lường số độ lệch chuẩn mà lợi nhuận thuần của ngân hàng bị sụt giảm làm khánh kiệt nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Do đó, ngân hàng có chỉ số z_score cao có nghĩa là ngân hàng có xác suất vỡ nợ thấp hay sức khỏe tốt hơn so với ngân hàng có chỉ số z_score thấp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và sức khỏe ngân hàng 2. Tác động của tăng trưởng tín dụng đối với sức khỏe ngân hàng Một trong những vai trò chính của ngân hàng là huy động và phân bổ vốn trong nền kinh tế, giúp dòng vốn được luân chuyển thuận lợi, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Cấp tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho ngân hàng.
Tăng trưởng tín dụng sẽ giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần, ngân hàng sẽ thuận lợi hơn trong việc tạo ra một tấm đệm giúp nâng cao khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những sự kiện bất lợi. Tuy nhiên tăng trưởng tín dụng sẽ đi kèm với danh mục tài sản mở rộng, rủi ro tín dụng tăng, đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống quản trị rủi ro và danh mục đầu tư tốt. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng quản trị rủi ro, quản lý danh mục tài sản đã làm gia tăng những khoản nợ xấu làm giảm lợi nhuận, thậm chí lỗ vốn, dẫn tới tăng nguy cơ mất khả năng thanh toán những khoản nợ của ngân hàng (Tamirisa và Igan, 2007; Igan và Pinheiro, 2011; Maechler, Mitra, Worrel, 2007). Tác động của sức khỏe ngân hàng đối với tăng trưởng tín dụng Các ngân hàng khỏe mạnh thường là những ngân hàng có khả năng quản trị rủi ro tốt hơn, có thể quản lý được danh mục tài sản phức tạp.
Với năng lực tài chính mạnh, khả năng giám sát danh mục đầu tư tốt, các ngân hàng khỏe mạnh có thể đạt được tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với các ngân hàng yếu kém. Tuy nhiên các ngân hàng yếu kém, trên đà sụt giảm lợi nhuận, nợ xấu tăng cao cũng có động cơ đẩy nhanh tăng trưởng tín dụng, sẵn sàng chấp nhận những khoản cho vay đầy rủi ro có lãi suất cao với hy vọng “đánh bạc để sống lại” (Baldursson, 2013). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Igan và Pinheiro (2011) đối với các ngân hàng trong giai đoạn 1995 – 2005 cho thấy các ngân hàng khỏe mạnh có tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn các ngân hàng yếu trong toàn thời gian nghiên cứu. Nhưng xét riêng ở giai đoạn 2000 – 2005, khi tín dụng trong hệ thống ngân hàng tăng trưởng nhanh thì những ngân hàng yếu kém cũng mở rộng tín dụng nhanh chóng như ngân hàng khỏe mạnh.
Chính điều này đã góp phần dẫn tới gia tăng bất ổn trong hệ thống ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Mô hình nghiên cứu 2. Tổng quan các mô hình nghiên cứu trước Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và sức khỏe ngân hàng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cho nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Deniz Igan và Marcelo Pinheiro (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và sức khỏe ngân hàng tại 90 quốc gia trong giai đoạn 1995 - 2005 thông qua hệ phương trình đồng thời giữa biến đại diện cho tốc độ tăng trưởng tín dụng (BankCreditGrowth) và biến đại diện cho sức khỏe ngân hàng (DistanceToDefault).
Mô hình điều chỉnh cho sự tác động của các yếu tố vĩ mô và những đặc trưng riêng của mỗi ngân hàng. Trong đó tăng trưởng tín dụng được tính bằng phần trăm thay đổi trong tổng dư nợ hàng năm đối với từng ngân hàng. Sức khỏe ngân hàng được ước lượng bằng chỉ số Distance to default (z_score)2. Kết quả nghiên cứu phát hiện tăng trưởng tín dụng nhanh có xu hướng làm giảm sức khỏe ngân hàng trong giai đoạn 1995 – 2000, đồng thời các ngân hàng khỏe mạnh hơn cũng có xu hướng tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với các ngân hàng yếu kém.
Tuy nhiên mối quan hệ này trở nên không có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn 2000 – 2005, cho thấy trong giai đoạn bùng nổ tín dụng trong nền kinh tế thì các ngân hàng yếu cũng mở rộng tín dụng nhanh như các ngân hàng mạnh. Các yếu tố vĩ mô bao gồm thu nhập bình quân đầu người (GDPperCapita), tốc độ tăng trưởng GDP (GDPgrowth), lãi suất thực của nền kinh tế (RIR), độ giảm giá của đồng nội tệ (∆RER); các yếu tố đặc trưng cho từng ngân hàng bao gồm các biến định lượng như độ thanh khoản (Liquidity), quy mô ngân hàng (Size), lợi nhuận biên (NetInterestMargin) và biến định tính thể hiện loại hình sở hữu của ngân hàng (Public – Sở hữu nhà nước, Foreign – Sở hữu nước ngoài). Mô hình nghiên cứu như sau: Phương trình 1: BankCreditGrowthijt = f(BankCreditGrowthij,t-1,GDPperCapita j,t-1, GDPgrowth j,t-1, RIR j,t-1, ∆RERj,t- 1, DistanceToDefault ij,t-1, NetInterestMarginij,t-1, Publicijt) Phương trình 2: DistanceToDefaultijt = f(BankCreditGrowthij,t-1, GDPperCapita j,t-1, DistanceToDefault ij,t-1, Liquidityij,t-1, Sizeij,t-1, Foreignijt) 2 Thực tế chỉ số Distance to default sử dụng trong nghiên cứu còn được gọi là chỉ số z_score. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.