CHƯƠNG I KHÁI LƯỢC VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 1. Qúa trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam 1.1 Sự ra đời và phát triển Phật giáo ở Việt Nam Ấn Độ là quê hương của Phật giáo. Xã hội Ấn Độ cổ đại xuất hiện từ rất sớm, vào khoảng thế kỉ XXV trước công nguyên. Xã hội Ấn Độ thời cổ đại được phân chia thành bốn đẳng cấp lớn là: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và nô lệ cung đình.
Mỗi giai cấp giữ một thế sinh hoạt riêng và có sự phân biệt sâu sắc giữa các giai cấp từ đó đã dẫn đến cuộc đấu tranh giữa các đẳng cấp trong xã hội. Trong khi những người Bà La Môn có uy tín tuyệt đối trong quần chúng và hưởng rất nhiều đặc quyền thì giai cấp tiện nô lại sống cuộc sống cơ cực lầm than, không có quyền ăn nói cũng như đóng góp ngang hàng Khóa luận xã hội học với mọi người. Nhìn rõ được cảnh khổ của chúng sinh, Đức Phật Thích Ca vốn là Thái tử của Ấn Độ lúc bầy giờ, Ngài đã quyết xuất gia tầm đạo để giải thoát khổ đau cho con người trong xã hội. Ròng rã sáu năm tu hành khổ hạnh trong rừng sâu và 49 ngày nhập định dưới gốc cây Bồ Đề, Đức Phật đã giác ngộ được đạo quả vô – thượng, chính – đẳng, chính – giác.
Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bà-La-Môn và chế độ đẳng cấp. Phật giáo đã lí giải căn nguyên nỗi khổ và tìm đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên đè nặng trong xã hội. Đạo Phật được lưu hành rộng rãi ở các quốc gia trong khu vực Á-Phi, gần đây được truyền tới các nước Âu -Mỹ. Trong quá trình truyền bá của mình, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục, dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều tông phái và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia.
8 Con đường du nhập của Phật giáo vào Việt Nam Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý đặc biệt – đó là nằm trên trục giao thông từ Nam Á lên Bắc Á, gần như nằm giữa các nước Đông Nam Á và là cái lưng của bán đảo Ấn Trung – vị trí nằm gữa Ấn Độ và Trung hoa. Với địa thế này, Việt Nam không những chịu ảnh hưởng của kinh tế mà còn có cả văn hóa và tôn giáo của hai nền văn minh cổ xưa này, trong đó có Phật giáo. Phật giáo đã có mặt ngay tại nước ta từ những năm đầu sau công nguyên, nếu không nói là sớm hơn. Quá trình du nhập đó của Phật giáo được thực hiện thông qua hai con đường: Phật Giáo du nhập qua con đường bộ (Ấn Độ - phía bắc Việt Nam) còn gọi là con đường tơ lụa.
Những người Ấn phát xuất từ Trung Ấn còn dùng tuyến đường bộ quang qua đèo Hasse Des Trois Pagodes, theo sông Kanburi xuống châu thổ sông Menam, từ đó đến sông Mêkông qua đất Lào rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An và đến Luy Lâu của Giao Châu. Trong cuốn Lịch sử Khóa luận xã hội học Phật Giáo Việt Nam (Hà Nội, 1988) có nói rõ: "Các thương nhân xuất phát từ Trung Ấn có thể dùng tuyến đường bộ ngang qua đèo Ba Chùa và theo sông Kanburi mà xuống Châu Thổ Mênam, bằng tuyến đường hiện nay vẫn nối liền cảng Moulmein với thành phố Raheng, nằm trên một nhánh của con sông Mênam (…) chính tuyến đường này dẫn tới vùng Bassak ở trung lưu sông Mekong, địa bàn của vương quốc Kambijan. Vương quốc này có thể là do những di dân Ấn Độ thành lập trước công nguyên. Rất có thể các tăng sĩ Ấn Độ vào đầu công nguyên đã theo con đường này mà đến đất Lào, rồi từ đây vượt Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An".
Phật Giáo du nhập qua con đường biển (Ấn Độ - phía nam Việt Nam): Qua những tài liệu người ta đã tìm thấy những di tích, di chỉ của quá trình truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Do đó, người ta đã kết luận rằng những bước đầu văn minh và tôn giáo từ Ấn Ðộ đã truyền qua Indonesia phải xảy ra trước công nguyên và hệ luận đương nhiên là nền văn minh và tôn giáo từ Ấn 9 Ðộ xuôi buồm đến Giao Châu cũng cùng thời điểm và cùng đi theo đường biển lên phương Bắc. Hơn nữa, từ những thế kỷ trước công nguyên Ấn Ðộ vẫn mua được vàng ở Xibêri nhưng từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên vì các đợt di dân lớn ở Trung Á đã làm chướng ngại con đường chuyên chở đó. Sau đó họ chuyển hướng nhập vàng từ La Mã thế nhưng chẳng bao lâu La Mã không bán vàng ra nước ngoài nữa nên Ấn Ðộ mới chuyển qua các nước phía Ðông và lên tận Giao Châu để mua những tiêu, quế, gỗ trầm hương, vàng bạc và các loại ngọc thạch.
Vì địa thế của Việt Nam nằm trên trục giao thông từ Nam Á lên Bắc Á và gần như nằm giữa các nước Ðông Nam Á nên các tàu buôn Ấn Ðộ theo gió Tây Nam lên trước khi đến Trung Quốc họ phải ghé qua Giao Châu như trạm dừng chân để nghỉ ngơi cũng như học Hán văn và làm quen với phong tục của Việt Nam và Trung Hoa trước khi đi sâu vào lục địa Trung Quốc. Khóa luận xã hội học Như vậy, Phật giáo được du nhập nước ta (thời bấy giờ là Giao Châu) trực tiếp từ Ấn Độ, và vào khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, Phật giáo đã trở nên thịnh hành ở nước ta với một cơ sở mạnh mẽ thể hiện qua hệ thống những cứ liệu về số lượng Tăng sĩ, chùa chiền, thành quả của công tác dịch thuật kinh điển. tại trung tâm Luy Lâu. Sự phát triển của Phật giáo Việt Nam Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nó đã hòa quyện vào đời sống nhân dân và góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa truyền thống của dân tộc.
Phật giáo Việt Nam chia làm 4 thời kỳ khác nhau, nhưng lúc nào Phật giáo cũng tìm mọi cách thích ứng để có những đóng góp thiết thực nhất cho dân tộc. Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ du nhập và hình thành Phật giáo Việt Nam (từ thế kỉ thứ II đến thế kỉ thứ V): Với sự nỗ lực truyền giáo của các tăng sĩ Ấn Độ, tại Luy Lâu, nơi đây đã trở thành một trung tâm Phật giáo lớn nhất trong vùng. Với sự truyền đạo của nhà sư Khâu Đà La thì đã xuất hiện hình tượng 10 Thạch Quang Phật và Phật Mẫu Man Nương - là một mô hình Phật giáo Việt Nam đầu tiên. Sang thế kỉ thứ III, có thêm ba nhà sư đến truyền giáo vào nước ta tại Giao Châu là ngài Khương Tăng Hội, ngài Chi Cương Lương Tiếp và ngài Ma Ha Kỳ Vực (người Ấn Độ).
Sang thế kỷ thứ V, có 2 thiền sư xuất hiện là: Đạt Ma Đề Bà người Ấn Độ đến Giao Châu vào giữa thế kỷ thứ V và thiền sư Huệ Thắng là người địa phương. Thời kỳ thứ hai, Phật giáo Việt Nam thời kỳ phát triển ( từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX). Sang thời kỳ này, Phật tử Việt Nam lại tiếp nhận thêm những đoàn truyền giáo từ Trung Quốc và có ba tông phái chính được truyền vào nước ta đó là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông. Thiền tông có nghĩa là tập trung khả năng, trí tuệ để tìm ra chân lý và được Phật Thích Ca tại Ấn Ðộ truyền xuống cho Tôn giả Ca Diếp, lần lượt cho đến Tổ thứ 28 Ấn Ðộ là Bồ Ðề Ðạt Ma.
Ðến năm 520 Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, là thái tử thứ ba của vua Kancipura, Nam Ấn, vâng theo lời thầy là Bát Nhã Khóa luận xã hội học Ða La, Bồ Ðề Ðạt Ma đến Trung Hoa để truyền bá Phật pháp. Tại nơi đây, Thiền Tông đã được hình thành và nhanh chóng hưng thịnh. Tịnh Ðộ Tông: chủ trương phải dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Chính Ðức Phật Thích Ca đã nhờ vào tự lực của mình để đến giác ngộ thì cần phải giúp đỡ họ, sự trợ lực hay tha lực này rất quan trọng.
Sự giúp đỡ đó còn cho thấy bản thân của người tín đồ là phải thường xuyên đi chùa dâng hương, cúng dường, bố thí, làm những điều thiện, tránh các điều ác và thường xuyên niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà, trong lúc niệm Phật phải hình dung, quán tưởng về thế giới cực lạc để tâm mình hướng tới. Mật tông: Là một tông phái chủ trương sử dụng những hình ảnh cụ thể và những mật ngữ, mật chú để khai mở trí tuệ giác ngộ. Tương truyền Mật Tông do Phật Ðại Nhật chủ xướng và có hai bộ kinh chính là Kinh Ðại Nhật và Kinh Kim Cương. Mật tông khi truyền vào Việt Nam đã nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với các nghi lễ truyền thống như chẩn tế, cầu đồng, dùng pháp thuật, yếm bùa trị tà ma và trị bệnh.
Mật tông không có 11 dấu hiệu phát triển rõ ràng ở Việt Nam, chỉ tuỳ thuộc vào sự thọ trì của từng chùa và của mỗi cá nhân có cơ duyên đến với tông phái này. Ở Việt Nam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết. Dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi thì pha trộn với Mật tông, nhiều thiền sư phái này nhất là những vị sống vào thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không đều nổi tiếng là giỏi pháp thuật, có tài biến hóa thần thông. Cùng với đó, Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự lực và tha lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông.
Thời kỳ thứ ba, thời kỳ Phật giáo Việt Nam phát triển cực thịnh (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII). Chính trong thời kỳ này, Phật giáo đã phát triển cực thịnh và có nhiều đống góp cho đất nước. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định giai cấp cho các tăng sĩ và chính thức tiếp nhận Phật giáo làm nguyên tắc chi đạo tâm linh cho chính sự. Các thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Ngô Chân Lưu,.
đã được phong làm cố vấn chính sự. Chính vì thế, Phật giáo Việt Khóa luận xã hội học Nam thời Kỳ này đã Phát triển tới mức toàn vẹn và cực thịnh.