Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Phần đầu của chương này sẽ bàn về đo lường phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Sau đó chúng ta sẽ hệ thống hóa các lý thuyết đề cập đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập. KHÁI NIỆM, ĐO LƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN PHỐI THU NHẬP 1. Khái niệm và đo lƣờng: Các nhà kinh tế thường phân biệt hai cách phân phối thu nhập để phục vụ cho cả mục tiêu phân tích và định lượng: đó là phân phối thu nhập theo “cá nhân” hay theo “qui mô”; và phân phối thu nhập theo chức năng hay theo “tỉ lệ thu nhập được phân phối cho các yếu tố sản xuất”.
Phân phối thu nhập theo cá nhân hay theo qui mô được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi hơn. Nó đề cập đến việc thu nhập được phân phối như thế nào giữa các cá nhân hay các hộ gia đình mà không quan tâm đến nguồn hình thành thu nhập. Nghiên cứu này cũng nằm trong trào lưu chung, sẽ tập trung xem xét phân phối thu nhập theo quy mô. Theo cách tiếp cận qui mô các nhà kinh tế và thống kê thường sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia tổng dân số thành các nhóm.
Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có qui mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập. Bằng cách này, chúng ta có thể 5 đưa ra các số liệu như trong Bảng 1. Mức độ bất bình đẳng về thu nhập ở Mỹ Năm 5% giàu Phần năm Phần năm Phần năm Phần năm Phần năm nhất giàu nhất gần giàu trung bình gần nghèo nghèo nhất nhất nhất 1998 20,7% 47,3% 23,0% 15,7% 9,9% 4,2% 1990 17,4 44,3 23,8 16,6 10,8 4,6 1980 15,3 41,5 24,3 17,5 11,5 5,2 1970 15,6 40,9 23,8 17,6 12,2 5,5 1960 15,9 41,3 24,0 17,8 12,2 4,8 1950 17,3 42,7 23,4 17,4 12,0 4,5 Nguồn: Cục Điều tra Dân số Mỹ (15) Những con số trong Bảng 1 cho phép chúng ta đánh giá được phương thức phân phối tổng thu nhập của nền kinh tế. Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình, thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập.
Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình, thì hai mươi phần trăm gia đình có thu nhập cao nhất sẽ nhận được tất cả thu nhập, và các nhóm gia đình khác không nhận được gì. Tất nhiên, nền kinh tế thực tế nằm ở đâu đó giữa hai thái cực này. Bảng 1 cho thấy ở Mỹ trong năm 1998, hai mươi phần trăm gia đình có thu nhập thấp nhất chỉ nhận được 4,2% tổng thu nhập, trong khi hai mươi phần trăm gia đình có thu nhập cao nhất nhận được tới 47,3% tổng thu nhập. Nói cách khác, mặc dù số gia đình của hai nhóm này bằng nhau, nhưng thu nhập của nhóm cao nhất gấp khoảng mười một lần thu nhập của nhóm thấp nhất.
Cột đầu tiên trong Bảng 1 trình bày phần trăm tổng thu nhập mà 5% hộ gia đình giàu nhất nhận được. Trong năm 1998, 5% gia đình giàu nhất ở Mỹ nhận được 20,7% tổng thu nhập. Do vậy, tổng thu nhập của 5% gia đình giàu 6 nhất là lớn hơn tổng thu nhập của 40% những gia đình nghèo nhất. Một áp dụng khá hiệu quả của cách định lượng này là tính chỉ tiêu Q5/Q1 - tỉ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất.
Một cách phổ biến khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân là xây dựng đường Lorenz trong đó trục hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỉ trọng thu nhập của các nhóm tương ứng. Đường chéo được vẽ từ gốc tọa độ biểu thị tỉ lệ phần trăm thu nhập nhận được đúng bằng tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập. Nói cách khác, đường chéo đại diện cho sự “công bằng hoàn hảo” của phân phối thu nhập theo qui mô: mọi người có mức thu nhập giống nhau. Còn đường Lorenz biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận được.
Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng một cách dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất. Đường Lorenz càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng. Trên cơ sở đường Lorenz các nhà thống kê kinh tế thường tính hệ số Gini, một thước đo tổng hợp về sự bất bình đẳng. Nó được tính bằng tỉ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường Loenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó.
Trong Hình 1 đó là tỉ lệ giữa phần diện tích tích A so với tổng diện tích A+B. Hệ số Gini có thể dao động trong phạm vi 0 (công bằng hoàn hảo: mọi người có mức thu nhập giống nhau) và 1 (bất công hoàn hảo: một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì). Trong thực tế, hệ số Gini cho các nước có phân phối thu nhập chênh lệch lớn nằm giữa 0,5 và 0,7, còn những nước có phân phối tương đối công bằng thì hệ số Gini nằm trong phạm vi 0,2 đến 0,35. Đƣờng Lorenz và hệ số Gini % thu nhập A A B % dân số Một thước đo khác được sử dụng rất rộng rãi để đánh giá phân phối thu nhập là tỉ lệ nghèo đói.
Đó là là phần trăm dân số có thu nhập thấp hơn một giá trị tuyệt đối nào đó được gọi là ngưỡng nghèo đói, mức thu nhập tối thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản như lương thực, quần áo và nhà ở để đảm bảo cho người ta có thể tiếp tục tồn tại. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới về nghèo, đó là sự “không có khả năng có được mức sống tối thiểu” để phân biệt với bất bình đẳng, là khái niệm về so sánh mức sống giữa các thành viên của xã hội (World Bank, 1990). Tiêu chuẩn Quốc tế về chuẩn nghèo dựa trên mức tiêu dùng được dùng để xác định tỉ lệ nghèo bao gồm mức tiêu thụ lương thực-thực phẩm tối thiểu (70%) và các chỉ tiêu phi thực phẩm (30%) và được xác định bởi một trình tự gồm hai bước. Bước thứ nhất thiết lập mức giá của một nhóm hàng hoá lương thực-thực phẩm đặc thù tại Việt Nam được coi như là thiết yếu để thoả mãn các nhu cầu về dinh dưỡng.
Giá trị tuyệt đối của nhóm hàng hoá này dựa vào tiêu chuẩn quốc tế để đạt được 2100 calo bình quân một ngày cho một thành viên của hộ. Mức chuẩn đói nghèo được thay đổi theo thời gian cùng với thay đổi về giá sản phẩm trong nhóm hàng hoá 8 (giá trị tuyệt đối của mức nghèo). Nó cũng có thể thay đổi khi cơ cấu của rổ hàng hoá trên có thay đổi. Ngưỡng nghèo đói được ấn định là 1,16 triệu đồng vào năm 1993; 1,79 triệu đồng vào năm 1998.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến phân phối thu nhập Các lao động rất khác nhau về sức khỏe, năng lực, trình độ, kỹ năng và sở thích. Các công việc cũng khác nhau về tiền lương và về các đặc điểm phi tiền tệ. Những khác biệt này có ảnh hưởng đến cung, cầu lao động và thu nhập của các cá nhân. Sự khác biệt mang tính đền bù Một số công việc tương đối nhàn hạ, vui vẻ và an toàn, trong khi đó lại có những công việc nặng nhọc, buồn tẻ và nguy hiểm.
Nếu tiền lương là như nhau thì hầu hết mọi người sẽ thích làm những công việc nhàn hạ, vui vẻ và an toàn. Do vậy, người lao động cần có một mức lương cao hơn để thực hiện những công việc nặng nhọc, buồn tẻ và nguy hiểm. Sự khác biệt mang tính đền bù là khoản chênh lệch về tiền lương phát sinh nhằm bù đắp cho các đặc điểm phi tiền tệ của các công việc khác nhau. Ví dụ, những người làm việc trong các mỏ than hoặc vào ca đêm sẽ có được khoản thu nhập bổ sung nhằm bù đắp cho sự không thú vị của công việc mà họ thực hiện.
Vốn nhân lực Tư bản là một yếu tố do sản xuất tạo ra. Tư bản bao gồm sự tích luỹ trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, và cả ở dạng kém hữu hình hơn đó là tư bản con người hay vốn nhân lực. Vốn nhân lực là sự tích luỹ đầu tư trong mỗi con người, ví dụ như học vấn và kinh nghiệm làm việc. Các lao động với nhiều vốn nhân lực sẽ kiếm được nhiều tiền hơn những lao động với ít vốn nhân lực bởi những lý do sau: Ở góc độ cầu lao động, những lao động có trình độ học vấn thường có sản phẩm biên cao hơn, do vậy các doanh nghiệp sẵn lòng trả cho họ mức lương cao hơn.
Ở góc độ cung lao động, người lao động chỉ sẵn lòng đi học nếu họ nhận được phần thưởng cho việc làm như vậy. 9 Thực tế có sự khác biệt mang tính đền bù giữa những lao động có trình độ học vấn và những lao động không có trình độ học vấn nhằm bù đắp cho chi phí của việc đi học. Năng lực, nỗ lực và cơ hội có thể giúp lý giải cho sự khác biệt về thu nhập. Một số người này thông minh hơn và khỏe mạnh hơn những người khác và họ được trả lương theo năng lực tự nhiên của họ.
Một số lao động làm việc vất vả hơn những người khác và họ được đền bù cho những cố gắng của họ. Cơ hội cũng đóng một vai trò nhất định, trong đó trình độ học vấn và kinh nghiệm của một cá nhân nào đó có thể trở nên vô nghĩa nếu sự thay đổi công nghệ làm cho công việc của cá nhân đó không cần nữa. Sắc đẹp có thể là năng lực tự nhiên bởi vì sự hấp dẫn về ngoại hình có thể làm cho một diễn viên hoặc một người phục vụ nhà hàng trở nên có năng suất hơn. Nó cũng có thể là một tín hiệu của người thông minh khi anh ta thành công trong việc tạo ra ngoại hình hấp dẫn, và điều này có thể cho thấy cá nhân này cũng có thể thành công trong những lĩnh vực khác.