PHẦN THỨ HAI Trích nội dung về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong các tác phẩm của V.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) “Trong xã hội học, tư tưởng đó về chủ nghĩa duy vật, tự bản thân nó, cũng đã là một tư tưởng thiên tài rồi. Đương nhiên, lúc đó, tư tưởng ấy chỉ mới còn là một giả thuyết, nhưng là một giả thuyết lần đầu tiên đã tạo ra khả năng có được một thái độ hết sức khoa học đối với những vấn đề lịch sử và xã hội. Cho đến lúc này, vì không biết hạ mình xuống để hiểu được những quan hệ hết sức giản đơn và ban đầu như những quan hệ sản xuất, nên các nhà xã hội học đã bắt tay thẳng vào việc phân tích và nghiên cứu những hình thức chính trị và pháp lý, đã đụng đầu phải cái sự thật là những hình thức đó nảy sinh ra từ những tư tưởng này hay những tư tưởng khác của nhân loại, trong một thời kỳ nhất định, - và họ đã không tiến xa hơn nữa; thành ra tựa hồ như những quan hệ xã hội là do con người tạo ra một cách có ý thức.
Nhưng kết luận đó, kết luận đã được biểu hiện đầy đủ trong tư tưởng về Contrat social (tư tưởng mà dấu vết của nó in rất rõ trong tất cả mọi hệ thống của chủ nghĩa xã hội không tưởng), hoàn toàn mâu thuẫn với tất cả mọi sự quan sát lịch sử. Trước kia cũng như hiện nay, chưa bao giờ những thành viên trong xã hội lại hình dung được toàn bộ những quan hệ xã hội trong đó họ đang sống là một cái gì xác định, hoàn chỉnh, quán triệt một nguyên tắc nào đó; trái lại, quần chúng tự thích ứng một cách không có ý thức với những quan hệ đó và hoàn toàn không quan niệm được rằng những quan hệ đó là những quan hệ xã hội lịch sử đặc thù, đến nỗi là những quan hệ trao đổi trong đó con người đã sống trong hàng bao thế kỷ chẳng hạn, thì mãi đến thời gian rất gần đây, họ mới giải thích được. Chủ nghĩa duy 304 VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT vật đã thủ tiêu mâu thuẫn đó bằng cách tiếp tục phân tích sâu hơn nữa, cho đến tận nguồn gốc của chính ngay những tư tưởng xã hội đó của con người; chỉ có kết luận của chủ nghĩa duy vật cho rằng tiến trình của những tư tưởng là phụ thuộc vào tiến trình của sự vật, là kết luận duy nhất có thể tương dung được với tâm lý học khoa học. Hơn nữa, đứng về một phương diện khác mà nói thì giả thuyết đó lần đầu tiên đã nâng xã hội học lên ngang hàng một khoa học.
Cho đến nay, trong cái mạng lưới phức tạp những hiện tượng xã hội, các nhà xã hội học lúng túng không phân biệt được những hiện tượng nào là quan trọng và những hiện tượng nào là không quan trọng (đó là căn nguyên của chủ nghĩa chủ quan trong xã hội học), và họ không thể tìm được một tiêu chuẩn khách quan cho sự phân biệt đó. Chủ nghĩa duy vật đã cung cấp một tiêu chuẩn hoàn toàn khách quan bằng cách tách riêng những quan hệ sản xuất, với tư cách là cơ cấu của xã hội, và bằng cách cho chúng ta có khả năng ứng dụng vào những quan hệ ấy cái tiêu chuẩn khoa học chung về tính lặp lại, tiêu chuẩn mà phái chủ quan chủ nghĩa cho là không thể đem ứng dụng vào xã hội học được. Chừng nào mà họ vẫn chỉ dừng lại ở những quan hệ xã hội tư tưởng (nghĩa là những quan hệ mà trước khi hình thành phải thông qua ý thức con người) thì họ không thể nhận thấy được tính lặp lại và tính hợp quy luật trong những hiện tượng xã hội ở các nước khác nhau, và khoa học của họ nhiều lắm cũng chỉ là sự mô tả những hiện tượng đó, sự thu nhặt những tài liệu chưa chế biến. Sự phân tích những quan hệ xã hội vật chất (tức là những quan hệ hình thành mà không thông qua ý thức con người: trong khi trao đổi sản phẩm, giữa người ta với nhau phát sinh ra những quan hệ sản xuất mà thậm chí người ta không biết đó là những quan hệ sản xuất xã hội), - việc phân tích những quan hệ xã hội vật chất khiến chúng ta có thể nhận thấy ngay được tính lặp lại và tính hợp quy luật, và có thể đem những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy nhất là: hình thái xã hội.
Chỉ có sự khái quát đó mới cho phép chuyển từ việc mô tả (và từ Phần thứ hai: TRÍCH NỘI DUNG. TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA V.LÊNIN 305 việc đánh giá theo quan điểm lý tưởng) những hiện tượng xã hội sang việc phân tích hiện tượng đó một cách hết sức khoa học để vạch ra, chẳng hạn, chỗ phân biệt giữa một nước tư bản chủ nghĩa này với một nước tư bản chủ nghĩa khác, và để nghiên cứu chỗ giống nhau giữa tất cả các nước tư bản chủ nghĩa đó. Sau cùng, thứ ba là, còn một lý do khác khiến giả thuyết đó lần đầu tiên đã tạo ra khả năng có một khoa xã hội học khoa học, đó là: chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được.] Mác chỉ dùng độc có những quan hệ sản xuất để giải thích cơ cấu và sự phát triển của một hình thái xã hội nhất định, song ở mọi nơi và mọi lúc, ông đều phân tích những kiến trúc thượng tầng tương ứng với những quan hệ sản xuất ấy, và đã thêm thịt, thêm da cho cái sườn đó.
Bộ “Tư bản”, sở dĩ được hoan nghênh nhiệt liệt, chính là vì cuốn sách đó của “nhà kinh tế học Đức” đã vạch ra cho độc giả thấy rằng toàn bộ hình thái xã hội tư bản chủ nghĩa là một cái gì sinh động - với những khía cạnh của đời sống hàng ngày, với những biểu hiện xã hội cụ thể của sự đối kháng giai cấp vốn có của những quan hệ sản xuất, với cái kiến trúc thượng tầng chính trị tư sản đang bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư bản, với những ý niệm tư sản về tự do, bình đẳng, v., với những quan hệ gia đình tư sản. Bây giờ thì ta dễ thấy rằng so sánh Mác với Đác-uyn là hoàn toàn đúng: bộ “Tư bản” không phải là cái gì khác mà chính là “một số tư tưởng có tính chất khái quát, gắn liền hết sức chặt chẽ với nhau và tổng kết cả một đống những tài liệu cụ thể to như núi Mông Blăng”. Và có ai đọc bộ “Tư bản” mà không biết nhận ra những tư tưởng khái quát đó thì như vậy không phải là lỗi tại Mác, vì ngay trong lời tựa, như chúng ta đã thấy, Mác cũng đã lưu ý chúng ta đến những tư tưởng ấy rồi. Hơn nữa, một sự so sánh như thế không những chỉ đúng về mặt ngoài (mặt này không hiểu 306 VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT tại sao lại làm cho ông Mi-khai-lốp-xki đặc biệt chú ý đến) mà đúng cả về mặt trong nữa.
Nếu Đác-uyn đã đánh đổ hẳn được quan niệm cho rằng những loài động vật và thực vật là không có liên hệ gì với nhau cả, là ngẫu nhiên mà có, là do “Thượng đế tạo ra” và là bất biến, và ông là người đầu tiên đã làm cho sinh vật học có một cơ sở hoàn toàn khoa học bằng cách xác định tính biến dị và tính kế thừa của các loài, - thì Mác cũng thế, Mác đã đánh đổ hẳn được quan niệm cho rằng xã hội là một tổ hợp có tính chất máy móc gồm những cá nhân, một tổ hợp mà nhà cầm quyền (hay là xã hội và chính phủ thì cũng vậy) có thể tùy ý biến đổi theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hoá một cách ngẫu nhiên; và Mác cũng là người đầu tiên đã làm cho xã hội học có một cơ sở khoa học, bằng cách xác định khái niệm coi hình thái kinh tế - xã hội là một toàn bộ những quan hệ sản xuất nhất định, bằng cách xác định rằng sự phát triển của những hình thái đó là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?, tr. “Nói sản xuất tư bản chủ nghĩa xã hội hoá lao động thì hoàn toàn không phải là nói người ta làm việc ở cùng một nơi (đó chỉ mới là một phần nhỏ của quá trình), mà là nói sự tích tụ tư bản có kèm theo sự chuyên môn hóa lao động xã hội, sự giảm bớt số lượng các nhà tư bản trong từng ngành công nghiệp nhất định và sự tăng thêm số lượng những ngành công nghiệp riêng biệt; - là nói nhiều quá trình phân tán của sản xuất nhập lại thành một quá trình sản xuất xã hội duy nhất. Nếu, chẳng hạn, trong thời kỳ dệt vải thủ công, những người sản xuất nhỏ tự mình kéo lấy sợi và dệt lấy vải thì chúng ta có ít ngành công nghiệp (ngành kéo sợi và ngành dệt hợp làm một).
Nhưng nếu sản xuất đã được chủ nghĩa tư bản xã hội hoá rồi thì số lượng những ngành công nghiệp riêng biệt tăng lên: ngành kéo sợi bông sản xuất riêng, ngành dệt sản xuất riêng; bản thân sự tách riêng ra đó và sự tập trung đó trong sản xuất lại làm nảy sinh ra những ngành công nghiệp mới: ngành chế tạo máy Phần thứ hai: TRÍCH NỘI DUNG. TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA V.LÊNIN 307 móc, ngành khai thác mỏ than, v. Trong mỗi ngành công nghiệp, bây giờ trở thành chuyên môn hoá hơn nữa, thì số lượng những nhà tư bản ngày càng giảm đi. Điều đó có nghĩa là mối liên hệ xã hội giữa những người sản xuất ngày càng được củng cố thêm, những người sản xuất kết thành một khối.