phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu Chƣơng 2: Nhu cầu giải trí của sinh viên và thực trạng đáp ứng của trƣờng Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Giải pháp đáp ứng nhu cầu giải trí của sinh viên trƣờng Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Sinh viên Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" [55] có nghĩa là ngƣời làm việc, học tập nhiệt tình, ngƣời đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó đƣợc dùng cùng nghĩa tƣơng đƣơng với từ "Student" trong tiếng Anh, "Etudiant" trong tiếng Pháp và "Cmgenm" trong tiếng Nga.
"Sinh viên" là để chỉ những ngƣời theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông. Từ điển Việt Nam (2001) định nghĩa: “ngƣời học ở bậc đại học” [57]. Theo Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trƣờng đào tạo của Bộ giáo dục và đào tạo: "sinh viên" là ngƣời đang theo học hệ đại học và cao đẳng [8]. Từ đó ta có thể hiểu: Sinh viên là những ngƣời đang học tập tại các trƣờng đại học, cao đẳng, nơi đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội trên mọi lĩnh vực.
Nhu cầu Hiện nay tùy theo khía cạnh tiếp cận mà chúng ta có những định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên phổ biến nhất thì nhu cầu đƣợc hiểu là một hiện tƣợng tâm sinh lý của con ngƣời; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau. Vì là hiện tƣợng tâm sinh lý nên nhu cầu mang tính chất biến đổi không ổn định.
11 Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội loài ngƣời vận động và phát triển theo quy luật thay thế của các hình thái kinh tế, xã hội, sự thay thế này chịu sự quy định theo sự phát triển của lực lƣợng sản xuất. Những lực lƣợng sản xuất này sẽ góp phần thoả mãn những nhu cầu cơ bản, sống còn và thoả mãn những nhu cầu ngày một cao của con ngƣời. Điều đó có nghĩa là nhu cầu kích thích lực lƣợng sản xuất. Karl Marx viết: “không có nhu cầu thì không có sản xuất”[72, tr.
Điều này chứng tỏ nhu cầu của con ngƣời không phải là bất biến mà nó biến đổi và phát triển thƣờng xuyên. Trong mỗi con ngƣời đều tồn tại một hệ thống nhu cầu, nhu cầu nào lớn hơn thì sẽ chi phối các nhu cầu khác và đòi hỏi con ngƣời phải đáp ứng nhu cầu đó. Nhƣng bên cạnh đó, nhu cầu là một mâu thuẫn, vừa xuất hiện, lại vừa mất đi khi nó hoàn toàn đƣợc thoả mãn, rồi lại nảy sinh nhu cầu mới. Chính vì vậy, những nhu cầu nhất định của con ngƣời là có tính lịch sử, cụ thể nhƣng tổng các nhu cầu thì tồn tại vĩnh viễn với đời sống hoạt động của con ngƣời.
Do đó, hoạt động giải trí của sinh viên trƣờng Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu cơ bản của sinh viên, cũng nhƣ tạo ra nhu cầu mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của sinh viên đồng thời nó còn mang bản chất xã hội và nhân văn của hoạt động chính bản thân sinh viên. Karl Marx khẳng định: “Bản thân các nhu cầu đầu tiên đã đƣợc thoả mãn. Hoạt động và công cụ để thoả mãn đã có đƣợc đƣa tới những nhu cầu mới, và sự nảy sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên” [71, tr. Theo từ điển tóm tắt Xã hội học, “Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con ngƣời, của nhóm xã hội hoặc toàn xã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tại của hoạt động” [75, tr.
Khái niệm trên cho thấy nhu cầu mang tính sinh học, nhằm đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển sinh học của con ngƣời, song mặt khác nhu cầu 12 cũng mang tính xã hội thể hiện ở chỗ dù là của riêng cá nhân nhƣng nhu cầu chỉ có thể đƣợc đáp ứng nhờ nền sản xuất xã hội. Nhu cầu của con ngƣời là giống nhau nhƣng ở mỗi thời đại, mỗi xã hội lại đáp ứng chúng theo những cách khác nhau. Nhu cầu còn đƣợc đáp ứng trong khuôn khổ của phong tục tập quán cộng đồng và bị quy định bởi văn hoá cộng đồng. Có nhiều loại nhu cầu, các loại nhu cầu khác nhau không tồn tại đơn lẻ, tách rời mà nằm trong mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc tƣơng tác lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất.
Nhu cầu giải trí là một nhu cầu thiết yếu của con ngƣời nằm trong hệ thống đó. Theo tác giả Lê Thị Kim Chi, Viện Triết học đƣa ra khái niệm: “Nhu cầu là những trạng thái thiếu hụt và những đòi hỏi cần đƣợc đáp ứng của chủ thể (con ngƣời và xã hội) để tồn tại và phát triển” [12, tr. Theo quan điểm của Tâm lý học thì khái niệm “Nhu cầu” dùng để chỉ “Sự đòi hỏi tất yếu mà con ngƣời thấy cần đƣợc thoả mãn để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển” [62, tr. “Nhu cầu bao giờ cũng có đối tƣợng cụ thể và nội dung của nó do những điều kiện và phƣơng thức thoả mãn quy định.
Khi nào đối tƣợng của nhu cầu có khả năng đáp ứng thì lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy sự hoạt động của các cá nhân hay nhóm xã hội" [62, tr. Nhƣ vậy, với cách hiểu về nhu cầu nhƣ trên, chúng ta có thể hiểu: Nhu cầu là quá trình đòi hỏi một vấn đề cụ thể của con ngƣời nảy sinh trong hoạt động của đời sống vật chất và đời sống tinh thần, khi vấn đề đƣợc giải quyết sẽ phát sinh cái mới tạo nên sự tồn tại và phát triển của xã hội. Tóm lại, khi nghiên cứu hệ thống nhu cầu của sinh viên cần phải nghiên cứu điều kiện xã hội, thời gian rỗi, điều kiện kinh tế, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý của họ. Chính những điểm đó quy định hệ thống nhu cầu của con ngƣời.
Thƣờng thì con ngƣời thực hiện một hành vi nào đó là để thoả mãn một hệ thống nhu cầu. Trong hệ thống nhu cầu đó có những nhu cầu cấp thiết hơn nó thúc đẩy mạnh mẽ con ngƣời tới hành vi và ta gọi những nhu cầu đó là nhu cầu 13 nổi trội. Giải trí Giải trí là dạng hoạt động mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động khác, nó không hề mang tính cƣỡng bức; con ngƣời có quyền lựa chọn theo sở thích của mình, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội. Nó là bƣớc chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện, đồng thời cùng là hoạt động không vụ lợi, nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt sự thƣ giãn, thƣ thả trong tâm hồn, và cao hơn nữa là đạt tới những rung cảm thẩm mỹ của cá nhân nhƣ thƣởng thức nghệ thuật, chơi các trò chơi, sinh hoạt tôn giáo…; là những hoạt động giải trí và thời gian dành cho giải trí đƣợc gọi là thời gian rỗi.
Theo từ điển xã hội học “Giải trí là một dạng hoạt động của con ngƣời, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con ngƣời về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học” và “giải trí không phải là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng” [63, tr. Theo tác giả Đinh Thị Vân Chi: “Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi, nhằm giải toả căng thẳng trí não, tạo sự hứng thú cho con ngƣời và là điều kiện phát triển con ngƣời và lao động điều kiện phát triển con ngƣời một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ” [14, tr. Theo tác giả Đoàn Văn Chúc, “Giải trí là hoạt động sản xuất và tiêu dùng các các tác phẩm văn hoá” [15, tr.28], tác phẩm văn hoá đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ những sản phẩm của các lĩnh vực thuộc nhu cầu tinh thần theo nghĩa rộng nhất. Để tạo ra sản phẩm văn hoá trong khi giải trí là sáng tạo những sản phẩm tinh thần với nghĩa rộng nhất, không chỉ là viết truyện làm, thơ, vẽ tranh theo sở thích, không chỉ là hoạt động nghệ thuật không chuyên hoặc tham gia các câu lạc bộ năng khiếu, mà còn gồm cả giao tiếp, tâm sự, tổ chức những cuộc vui chơi.
Giải trí là sản phẩm của lao động. Lao động phải đạt tới trình độ phát triển 14 nhất định mới tạo đƣợc thời gian rỗi cho giải trí. Ngƣợc lại, giải trí giúp con ngƣời phát triển toàn diện, và nhờ vậy sẽ lao động tốt hơn. Nghĩa là có lao động thì mới có giải trí, giải trí tốt sẽ lao động tốt, lao động tốt sẽ lại giải trí tốt hơn.
Lao động và giải trí nằm trong mối tƣơng tác chặt chẽ, chuyển hoá và hỗ trợ cho nhau, nên không có lao động thì không có giải trí đích thực, không có giải trí thì con ngƣời không có cảm nhận về cuộc sống, cũng không biết hƣởng thụ những thành quả lao động của chính mình. Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi để con ngƣời có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau: Có ngƣời tranh thủ làm thêm tăng thu nhập hoặc học thêm để nâng cao trình độ; Cũng có ngƣời dùng thời gian rỗi để thực hiện những hoạt động không hề có tác dụng gì đối với sự phát triển toàn diện cá nhân, thậm chí là vô bổ hoặc có hại nhƣ ăn nhậu, rong chơi hoặc dính vào các tệ nạn xã hội, những hoạt động lệch chuẩn nhƣ vậy không thuộc nội hàm khái niệm giải trí. Giải trí không phải là nghỉ ngơi thụ động mà là những hoạt động mang tính chủ động. Tức là giải trí hoàn toàn tự do, do cá nhân lựa chọn và tham gia một cách chủ động, không hề bị thúc bách bởi một nghĩa vụ, bổn phận nào.
Tất nhiên cùng một hoạt động, có thể là giải trí, có thể không là giải trí, tuỳ thuộc vào thời gian và mục địch hoạt động.