Chương 1: Tổng quan về đề tài Ở chương này, nghiên cứu đã tổng hợp các thông tin xoay quanh nội dung tổng quan về đề tài, bao gồm: Bối cảnh nghiên cứu và lí do mà nhóm chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu mà nhóm nghiên cứu đặt ra; câu hỏi nghiên cứu giúp làm rõ hơn mục tiêu nghiên; đối tượng 7 và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; đóng góp của đề tài nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận Tiếp nối phần tổng quan đề tài, chương 2 sẽ phân tích các nội dung về cơ sở lý luận, bao gồm: Một số khái niệm liên quan đến sự thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp; các lý thuyết nền; một số nghiên cứu có liên quan cuối cùng là phần nội dung liên quan đến việc phát triển giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Sau khi đưa ra các cơ sở lý luận quan trọng, nhóm nghiên cứu thực hiện chương tiếp theo về phương pháp nghiên cứu. Trong chương này phân tích những nội dung như: Thiết kế nghiên cứu; các công cụ thu thập dữ liệu; phương pháp thu thập dữ liệu và các phương pháp phân tích dữ liệu.
Chương 4: Phân tích dữ liệu Qua quá trình thu thập kết quả khảo sát để thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố, tác giả sẽ tiến hành phân tích dữ liệu và đưa ra các kết quả từ dữ liệu vừa phân tích. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Cuối cùng, thông qua những nội dung đã được trình bày trong 4 chương đầu thì chương cuối sẽ trình bày tóm tắt lại những mục tiêu và kết quả đã đạt được sau khi thực hiện nghiên cứu, bao gồm: kết quả nghiên cứu chính, hàm ý quản trị, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Thoát khỏi cảm giác tiêu cực Theo tâm lý học thì “cảm xúc” là một trạng thái tâm lý có “tính nguyên thủy” của con người. Để hình thành cảm xúc thì cần có đối tượng/sự kiện bên ngoài tác động.
Như vậy cảm xúc có thể hiểu là “sự phản ứng/rung động bên trong của con người trước tác động của ngoại cảnh”. Cảm xúc tiêu cực thể hiện qua sự mệt mỏi, thất vọng và không hài lòng (Dai, Ali và Wang, 2020) hoặc cáu kỉnh (Lopez-Fernandez, 2018). Cảm giác tiêu cực cũng được hiểu là sự tức giận, lo lắng, tội lỗi, đố kỵ, ghen tuông (Lazarus, 1991) và liên quan đến tính dễ bị tổn thương (Brody và Hall, 2008). Trong khi những biểu hiện cảm xúc tiêu cực có thể dẫn đến ấn tượng về khả năng tự kiểm soát kém và khả năng điều chỉnh cảm xúc yếu (Gross, Richards và John, 2006).
Lý thuyết mở rộng và xây dựng của Fredrickson (2001, 2008, 2013a) đặt ra rằng những cảm xúc tiêu cực có xu hướng được tập trung và liên kết với các quỹ đạo hành động, suy nghĩ cụ thể (tức giận và phá hủy chướng ngại vật) chẳng hạn như khi sự tức giận tạo ra nỗ lực phối hợp để phá hủy nó, hoặc một cảm xúc như ghê tởm dẫn đến việc từ chối những thực phẩm không lành mạnh hoặc độc hại (Lazarus, 2003). Cảm xúc tiêu cực là sự tức giận hay sợ hãi khi làm một việc nào đó khiến ta không tự tin, cũng như cảm giác tiêu cực sẽ dẫn đến con người trở nên yếu và đễ bị tổn thương có thể tự làm tổn thương mình hoặc làm tổn thương người khác khi trong tâm trí ta xuất hiện cảm xúc tiêu cực đó. Khi đã có có cảm xúc tiêu cực thì bản thân sẽ chỉ nghĩ những thứ không lạc quan gây cho mình cuộc sống khép kín và không phát triển được bản thân. Thoát khỏi cảm giác tiêu cực (Escape from negative feelings) hay giải toả cảm giác tiêu cực (Venting negative feelings) có ý nghĩa như nhau.
Người dùng thoát khỏi cảm giác tiêu cực bằng cách tạo nội dung trên mạng xã hội để nói lên sự bất mãn, trút bỏ sự tức giận, chống lại điều gì đó không công bằng (Leung, 2013). Dựa vào những cơ sở trên, việc thoát khỏi cảm giác tiêu cực được hiểu là việc thoát khỏi cảm giác mệt mỏi, thất vọng, không hài lòng, cáu kỉnh, tức giận, lo lắng, tội lỗi, đố kỵ, 9 ghen tuông,… thông qua việc nói lên sự bất mãn, trút bỏ sự tức giận của bản thân hoặc chống lại điều gì đó mà mình cảm thấy không công bằng,… 2.2 Lòng biết ơn Lòng biết ơn là một cảm xúc xuất hiện khi ta nhận được sự giúp đỡ của ai đó được coi là tốn kém, có giá trị và lòng vị tha (Wood và cộng sự, 2008). Lòng biết ơn cũng được hiểu là một cảm xúc luôn hướng tới việc làm có ích cho người khác (McCullough và cộng sự, 2001) là chìa khóa chính cho sự thành công, “cơ hội các mối quan hệ và tiền bạc chạy đến chỗ tôi khi tôi học được cách biết ơn trong bất cứ hoàn cảnh nào trong đời” (Cohen, 2018). Đôi khi lòng biết ơn có tác dụng tích cực về mặt tâm lý của con người làm giảm khả năng trầm cảm, lo lắng và khởi sinh ý định tử tử (Kleiman và cộng sự, 2013).
Lòng biết ơn đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ (Bartlett và cộng sự, 2012). Tác động tích cực của lòng biết ơn kéo dài có thể ảnh hưởng đến các kiểu ngủ (Wood và cộng sự, 2009), thành tích học tập (Froh và cộng sự, 2007), cũng như như bảo vệ chống trầm cảm, lo lắng và chủ nghĩa vật chất (Froh và cộng sự, 2011). Lợi ích của lòng vị ơn sẽ khiến con người trở nên hạnh phúc hơn và vì thế khoa học về lòng biết ơn là khoa học về sự hạnh phúc (Emmons, 2007). Lòng biết ơn còn là cảm xúc nảy sinh từ cá nhân (người thụ hưởng) nhận thấy rằng một đối tác thay đổi (nhà hảo tâm) đã cố ý hành động để cải thiện tình trạng của cá nhân nào đó (Fredrickson, 2004), lòng biết ơn bao gồm các thành phần nhận thức, tình cảm hay hành vi ví dụ như cá nhân nhận được lời ích từ các nhà hảo tâm, đánh giá cao nhận thức và thừa nhận lợi ích đó (Buck, 2004), lòng biết ơn còn được nói đến là đức tính công dân quan trọng hoàn toàn cần thiết cho việc vận hành xã hội (Emmons, 2004) được coi là cốt lõi tình cảm của sự có đi có lại (Becker, 1986).
Nói chung chúng ta có thể định nghĩa lòng biết ơn là chìa khóa mở ra một tương lai mới bởi khi có lòng biết ơn chúng ta sẽ có được sự thành công, dành được sự yêu quý của mọi người và nó giúp con người thoát khỏi những cảm giác tiêu cực cũng như lòng biết ơn khiến con người trở nên hạnh phúc hơn, cảm thấy yêu đời hơn cũng như mở ra một cuộc sống hay có được một cuộc sống mới khi chúng ta học được sự biết ơn. Lòng biết ơn có thể nâng cao được mối quan hệ khi một cá nhân giúp cho một cá nhân khác hoặc tổ chức làm người đó cảm thấy biết ơn lòng biết ơn khiến con người trở nên hạnh phúc hơn, cảm 10 thấy yêu đời hơn cũng như mở ra một cuộc sống hay có được một cuộc sống mới khi chúng ta học được sự biết ơn.3 Lòng vị tha và những hành vi vị tha trên Instagram Lòng vị tha ở con người được thúc đẩy bởi một phần là sự đồng cảm và quan tâm đến lợi ích của người khác (Silka và Horors, 2011). Lòng vị tha có thể được học và duy trì trong suốt cuộc đời của một cá nhân. Các hành động vị tha của cá nhân, mỗi hành động có thể không mang lại lợi ích (hoặc có thể gây hại) cho tác nhân, tuy nhiên có thể có lợi khi lặp đi lặp lại theo thời gian (Rachlin, 2002).
Bên cạnh đó, lòng vị tha được đề cập đến với một trạng thái động lực có mục tiêu cuối cùng là tăng thêm phúc lợi xã hội cho người khác (Batson, 2017). Lòng vị tha, được định nghĩa là hành vi tốn kém có lợi cho người khác (Kurzban, Burton- Chellew và West, 2015) là một đặc điểm quan trọng của hành vi con người (Rand và Nowak, 2013). Lợi ích của lòng vị tha đối với những người khác được thể hiện trong việc cung cấp hàng hóa công cộng, sự tồn tại của các tổ chức tình nguyện và hoạt động tình nguyện, hoạt động từ thiện tư nhân và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hiến máu và nội tạng, và giúp đỡ trong các thảm họa (Piliavin và Charng, 1990). Hơn nữa, ở cấp độ tâm lý, lòng vị tha quan trọng vì hai lý do.
Lòng vị tha không chỉ là chìa khóa của xã hội hóa mà còn được coi là một đặc điểm nhân cách quan trọng (Krebs, 1970). Nhìn chung, lòng vị tha xuất phát từ sự đồng cảm và quan tâm đến lợi ích của người khác, hy sinh điều gì đó như thời gian, tiền bạc, chia sẻ kiến thức,…. cho người khác mà không cần sự đáp trả. Lòng vị tha có thể đem lại lợi ích cho bản thân khi giúp giải tỏa chính mình, cảm thấy tốt về bản thân mình vì đã tử tế với người khác.
Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của lòng vị tha không phải để đem lại lợi ích cho bản thân mình mà là đem lại lợi ích cho người khác.4 Sự sẵn sàng đóng góp và đóng góp trực tuyến Có ba loại quyên góp đó chính là máu, thời gian và tiền bạc. Tùy các hình thức quyên góp khác nhau sẽ có liên quan đến nhận thức khác nhau của người tiêu dùng (Pentecost và Andrews, 2010; Johnson và Grimm, 2010). Tiền là hình thức quyên góp được áp dụng nhiều nhất trên SNS (Social Network Service: Dịch vụ mạng xã hội), ở đây tiền có thể 11 được quyên góp và thu thông qua giao dịch trực tuyến. Có những lý do nào khiến mọi người quyên góp và những yếu tố nào là động cơ thúc đẩy họ quyên góp? Nghiên cứu cho thấy rằng hành vi quyên góp bị ảnh hưởng bởi nhận thức của các cá nhân phù hợp với việc quyên góp dựa trên giá trị, sự hiểu biết và thái độ của họ (Johnson và Grimm, 2010; Kasri, 2013).
Các yếu tố nội tại xuất phát từ mong muốn cơ bản của con người là giúp đỡ những người cần giúp đỡ, chẳng hạn như trách nhiệm (Lee và Chang, 2007; Kasri, 2013), mong muốn tạo ra sự thay đổi (Pentecost và Andrews, 2010; Kasri, 2013) và nghĩa vụ đạo đức (Knowles và cộng sự, 2012).