CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Theo Mishkin và Eakins (2009), trong một thế giới toàn cầu hóa về kinh tế thì thương mại, đầu tư quốc tế bị ảnh hưởng bởi tỷ giá trao đổi các loại tiền tệ tham gia giao dịch. Tỷ giá đóng vai trò quan trọng đối với chuyển dịch vốn đầu tư giữa các quốc gia cũng như mức độ hoạt động thương mại giữa các quốc gia, thể hiện qua chỉ số độ mở thương mại. Ngược lại, độ mở thương mại của một quốc gia cũng chính là nguyên nhân góp phần gây nên biến động tỷ giá.
Quốc gia có độ mở thương mại càng lớn thì càng chịu ảnh hưởng nhanh và mạnh từ những biến động trên thị trường thế giới, trong đó có các biến động liên quan tỷ giá trao đổi đồng tiền giữa các quốc gia. Từ sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods, năm 1971, các nền kinh tế tiên tiến dần chuyển từ hệ thống tỷ giá cố định sang hệ thống thả nổi. Theo Stockman (1983), sự chuyển đổi này tạo ra sự biến động lớn hơn cho cả tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực. Dornbusch (1976) cho rằng yếu tố tiền tệ là nguyên nhân chính gây ra biến động tỷ giá.
Tuy nhiên, Calderon (2004) tranh luận rằng, bên cạnh các yếu tố tiền tệ ảnh hưởng đến tỷ giá thì các yếu tố phi tiền tệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc giải thích biến động tỷ giá. Trong số các yếu tố phi tiền tệ này, Calderon (2004) đã đề cập đến một yếu tố quan trọng, đó là mức độ mở của nền kinh tế. Calderon (2004) cho rằng tỷ giá thực ít biến động hơn ở các nền kinh tế cởi mở hơn, và ngược lại, các nền kinh tế cởi mở hơn đối với thương mại sẽ giúp giảm tác động của các cú sốc bên ngoài đối với biến động tỷ giá thực. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá và độ mở thương mại như Edwards (1988); Calderon (2004); Drine và Rault (2006); Combes, Kinda và Plane (2012); Jongwanich và Kohpaiboon (2013); Ricci, Milesi‐Ferretti và Lee (2013); Calderón và Kubota (2018).
Phần lớn nghiên cứu của cho thấy, độ mở thương mại tăng dẫn đến giảm giá trị thực của đồng nội tệ. Tuy nhiên, có nghiên cứu cho thấy tác động của độ mở thương mại đến tỷ giá thực còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia về mức độ phát triển, cách thức điều hành nền kinh tế cũng như vị thế của quốc gia trên thị trường quốc tế. Mặt khác, nghiên cứu của Li (2004); Hausmann, 1 Panizza, Rigobon (2004); Bagella, Becchetti và Hasan (2006) chỉ ra rằng tăng trưởng GDP tương đối là một trong những yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự biến động tỷ giá thực. Nhóm nghiên cứu chưa tìm thấy nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá và độ mở thương mại ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan tỷ giá và độ mở thương mại phần lớn là các nghiên cứu nghiên cứu riêng lẻ về các nhân tố tác động đến tỷ giá (Hạ Thị Thiều Dao, 2012; Đỗ Văn Lâm, 2014), hoặc phân tích chênh lệch giữa các loại tỷ giá (Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh, 2012); hoặc mối quan hệ giữa tỷ giá và các biến số vĩ mô khác (Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh, 2010; Trinh (2014); Trương An Bình, 2015; Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2015). Liên quan đến độ mở thương mại, nhóm nghiên cứu tìm thấy có ít nghiên cứu liên quan mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tăng trưởng (Quách Doanh Nghiệp, 2015; Phạm Thị Hồng Vân, 2019) hay mối quan hệ giữa độ mở thương mại và vốn FDI (Lê Thanh Tùng, 2014). Nhóm tác giả chưa tìm thấy có nghiên cứu định lượng về mối quan hệ giữa tỷ giá và độ mở thương mại ở Việt Nam. Về bối cảnh thực tiễn, kể từ khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng với cộng đồng kinh tế khu vực và quốc tế.
Theo số liệu thu thập từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (2018), nền kinh tế Việt Nam có độ mở thương mại khá cao trong những năm gần đây và có xu hướng tăng nhanh. Bên cạnh những cơ hội cho nền kinh tế, độ mở thương mại gia tăng đã tạo ra thách thức trong điều hành tỷ giá trước những biến động của thị trường tài chính quốc tế như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 hay sự mất giá của đồng Nhân dân tệ (CNY) so với đô la Mỹ vào năm 2018. Bối cảnh lý thuyết và thực tiễn đã đặt ra vấn đề liệu có tồn tại mối quan hệ giữa độ mở thương mại và biến động tỷ giá ở Việt Nam hay không? Bản chất của mối quan hệ giữa biến động tỷ giá và độ mở thương mại ở Việt Nam là gì? Thứ nhất, các nghiên cứu đã có trên thế giới đã đạt được một số bằng chứng thống kê khẳng định tồn tại mối quan hệ giữa tỷ giá và độ mở thương mại. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu đã có trên thế giới, tác động của độ mở thương mại đến tỷ giá có thể xảy ra chiều hướng khác nhau (làm tăng hoặc làm giảm giá trị nội tệ).
Điều này còn tuỳ thuộc vào đặc điểm của 2 từng quốc gia cũng như các biến số lựa chọn. Do đó, cần tiếp tục bổ sung thêm các nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là cho trường hợp các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Thứ hai, các nghiên cứu đã có về tỷ giá ở Việt Nam và trên thế giới sử dụng các biến số khác nhau đại diện cho yếu tố tỷ giá như tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực song phương hay tỷ giá thực đa phương với số lượng đối tác ít. Đây chính là điểm hạn chế của các nghiên cứu đã có.
Theo Carrieri, Errunza và Majerbi (2006); Berdiev, Kim và Chang (2012), các nhà nghiên cứu nên xem xét tỷ giá thực hơn là tỷ giá danh nghĩa vì tỷ giá thực loại bỏ ảnh hưởng của lạm phát và là chỉ số tốt hơn phản ánh tác động của tỷ giá đến vốn ĐTNN. Đặc biệt, các chỉ số tỷ giá đa phương (với tương quan đối tác thương mại lớn) sẽ phản ánh chính xác hơn hành vi của tỷ giá. Xuất phát từ bối cảnh lý thuyết và thực tiễn nền kinh tế Việt Nam, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu phân tích mối quan hệ của độ mở thương mại và biến động tỷ giá thực đa phương ở Việt Nam với các điểm chính sau: (1) Xem xét mối quan hệ của độ mở thương mại và biến động tỷ giá thực ở Việt Nam, nhằm bổ sung đối với các tài liệu nghiên cứu hiện có trên thế giới một bằng chứng thực nghiệm về trường hợp của các nước đang phát triển với độ mở thương mại ngày càng tăng; (2) Sử dụng tỷ giá thực đa phương với một số lượng các đối tác thương mại lớn (khác với các nghiên cứu trước đây sử dụng tỷ giá thực song phương hoặc đa phương với một số ít đối tác); (3) Hàm ý chính sách về quản lý độ mở thương mại và điều hành tỷ giá trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tỷ giá thực ở Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu tổng quát, nghiên cứu xác định các mục tiêu cụ thể là: (4) Nghiên cứu tác động của tỷ giá thực đa phương đến độ mở thương mại ở Việt Nam (5) Nghiên cứu tác động của độ mở thương mại đến tỷ giá thực đa phương ở Việt Nam (6) Đề xuất hàm ý chính sách quản lý độ mở thương mại và quản lý tỷ giá tại Việt Nam Câu hỏi nghiên cứu 3 Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như trên, nghiên cứu sẽ tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau: (4) Tỷ giá thực đa phương có tác động đến độ mở thương mại ở Việt Nam không? và tác động như thế nào (nếu có)? (5) Độ mở thương mại có tác động đến tỷ giá thực đa phương ở Việt Nam không? và tác động như thế nào (nếu có)? (6) Những hàm ý chính sách quản lý độ mở thương mại và chính sách tỷ giá có thể áp dụng ở Việt Nam là gì? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tỷ giá ở Việt Nam cũng như ảnh hưởng của yếu tố vĩ mô là tăng trưởng kinh tế đến mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tỷ giá. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tỷ giá cho trường hợp quốc gia Việt Nam.
Về thời gian: phân tích mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tỷ giá trong giai đoạn từ quý 1/2004 đến quý 4/2020 1. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, nghiên cứu thực hiện kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Cụ thể như sau: Để đạt mục tiêu 1 và mục tiêu 2 “Phân tích mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tỷ giá ở Việt Nam” nhóm tác giả sử dụng nghiên cứu định tính lược khảo các nghiên cứu trước nhằm đề xuất các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu.
Tiếp theo, nhóm tác giả sử dụng nghiên cứu định lượng để kiểm định mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa giữa độ mở thương mại và tỷ giá tại Việt Nam. Cuối cùng, nhóm tác giả sử dụng nghiên cứu định tính nhằm thảo luận các kết quả nghiên cứu định lượng, so sánh với các 4 nghiên cứu trước và điều kiện thực tiễn Việt Nam để phân tích chi tiết về mối quan hệ giữa giữa độ mở thương mại và tỷ giá tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu cụ thể 3 là “Khuyến nghị hàm ý chính sách quản lý độ mở thương mại và chính sách điều hành tỷ giá tại Việt Nam” nhóm tác giả sử dụng nghiên cứu định tính đánh giá các kết quả nghiên cứu và tình hình thực tiễn nhằm đề xuất các hàm ý chính sách quản lý độ mở thương mại và chính sách tỷ giá ở Việt Nam.Dữ liệu nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp (tần suất quý), được thu thập từ tổ chức BRUEGEL (Châu Âu) và Tổng cục thống kê Việt Nam.