Khóa luận tốt nghiệp đại học mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhận swom và hình ảnh thương hiệu trên phương tiện truyền thông xã hội

Khóa luận phân tích mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhận SWOM và hình ảnh thương hiệu trên mạng xã hội, cung cấp cái nhìn sâu sắc cho doanh nghiệp.

Chuyên ngành

Marketing

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

102
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Giới thiệu tóm tắt về nghiên cứu

1.2. Lý do lựa chọn đề tài

1.3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu tổng thể

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

1.3.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Khách thể nghiên cứu

1.4.3. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Quy trình và phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Quy trình nghiên cứu

1.5.2. Cách tiếp cận nghiên cứu

1.5.3. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Công cụ thu thập dữ liệu, các biến số, các tư liệu

1.7. Kết cấu đề tài

1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Chất lượng cảm nhận (perceived quality)

1.1.1. Chất lượng cảm nhận

1.1.2. Các mô hình đánh giá chất lượng cảm nhận

1.1.3. Chất lượng cảm nhận trên mạng xã hội

1.2. Giá trị cảm nhận (perceived value)

1.3. Tài sản thương hiệu (Brand Equity)

1.4. Hình ảnh thương hiệu (brand image)

1.4.1. Khái niệm hình ảnh thương hiệu

1.4.2. Sự chuyển dịch định nghĩa về hình ảnh thương hiệu

1.4.3. Hình ảnh thương hiệu trên phương tiện truyền thông xã hội

1.5. Liên tưởng thương hiệu (Brand Association)

1.6. Truyền miệng trên phương tiện truyền thông xã hội (SWOM)

1.6.1. Phương tiện truyền thông xã hội (social media)

1.6.2. WOM và EWOM

1.6.3. Truyền miệng trên mạng xã hội (Social media word of mouth)

1.6.4. Xếp hạng và đánh giá (rating & review)

1.6.5. Sự tin tưởng (trust)

2. PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

2.1. Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

2.1.1. Giả thuyết nghiên cứu

2.1.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Triết lý nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

2.2.3. Khuôn khổ nghiên cứu

2.2.4. Quy trình khảo sát

2.2.5. Phân tích dữ liệu định lượng

2.3. Dữ liệu nghiên cứu của khóa luận

2.3.1. Tổng thể nghiên cứu

2.3.2. Chọn mẫu nghiên cứu

2.3.3. Thu thập dữ liệu qua phiếu điều tra khảo sát

2.3.4. Cấu trúc dữ liệu, mã, nhãn, mã hóa thông tin

2.3.5. Làm sạch dữ liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tổng quan về mẫu nghiên cứu định lượng

3.2. Đánh giá độ tin cậy của dữ liệu cho từng nhân tố

3.3. Kiểm định giá trị của thang đo

3.4. Kiểm định nhân tố khẳng định CFA

3.4.1. Tiêu chuẩn kiểm định

3.4.2. Kết quả kiểm định theo CFA

3.5. Mô hình SEM đánh giá tổng quát mối quan hệ giữa các nhân tố

3.5.1. Mô hình SEM kiểm định khung lý thuyết với các biến quan sát

3.5.2. Mô hình SEM với sự tham gia của biến kiểm soát

3.5.3. Mô hình SEM với sự tham gia của biến điều tiết

3.6. Thảo luận kết quả

3.6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

3.6.2. Thảo luận về kết quả nghiên cứu

4. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Một số đóng góp về mặt học thuật

4.2. Một số đóng góp về mặt thực tiễn

4.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

4.4. Gợi ý nghiên cứu trong tương lai

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Quan Hệ Giữa Chất Lượng Cảm Nhận SWOM Và Hình Ảnh Thương Hiệu

Mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhậnhình ảnh thương hiệu trên mạng xã hội đang trở thành một chủ đề nóng trong nghiên cứu marketing hiện đại. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cách mà SWOM (truyền miệng trên mạng xã hội) ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo ra một nền tảng mạnh mẽ cho việc chia sẻ thông tin, từ đó tác động đến cách mà người tiêu dùng nhận thức về thương hiệu.

1.1. Khái Niệm Chất Lượng Cảm Nhận Trong Marketing

Chất lượng cảm nhận là yếu tố quan trọng trong việc hình thành hình ảnh thương hiệu. Nó phản ánh sự đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên trải nghiệm thực tế. Nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng cảm nhận cao sẽ dẫn đến sự tin tưởng và lòng trung thành của khách hàng.

1.2. SWOM Và Tác Động Đến Hình Ảnh Thương Hiệu

SWOM là một hình thức truyền miệng trên mạng xã hội, nơi người tiêu dùng chia sẻ ý kiến và trải nghiệm của họ về thương hiệu. Sự lan tỏa của SWOM có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hình ảnh thương hiệu, tùy thuộc vào nội dung và cảm xúc của các bài viết.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giữa SWOM Và Hình Ảnh Thương Hiệu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về SWOMhình ảnh thương hiệu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định mối quan hệ chính xác giữa chúng. Các yếu tố như độ tin cậy của thông tin, sự phân tán của người tiêu dùng và sự khác biệt trong cách tiếp cận thương hiệu có thể làm phức tạp thêm vấn đề này.

2.1. Độ Tin Cậy Của Thông Tin Trên Mạng Xã Hội

Độ tin cậy của thông tin là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cách mà người tiêu dùng tiếp nhận thông tin từ SWOM. Nếu thông tin không đáng tin cậy, nó có thể dẫn đến sự hiểu lầm và ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh thương hiệu.

2.2. Sự Khác Biệt Trong Cách Tiếp Cận Thương Hiệu

Mỗi thương hiệu có cách tiếp cận khác nhau trên mạng xã hội, điều này có thể ảnh hưởng đến cách mà người tiêu dùng nhận thức về thương hiệu. Sự khác biệt này cần được xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu để đưa ra những kết luận chính xác.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giữa Chất Lượng Cảm Nhận Và Hình Ảnh Thương Hiệu

Để nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhậnhình ảnh thương hiệu, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng sẽ được áp dụng. Phương pháp này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của chúng đến hình ảnh thương hiệu.

3.1. Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính

Phương pháp nghiên cứu định tính sẽ bao gồm phỏng vấn sâu với người tiêu dùng để thu thập thông tin về cảm nhận của họ về thương hiệu. Điều này giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cảm nhận.

3.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ sử dụng bảng hỏi để thu thập dữ liệu từ một mẫu lớn người tiêu dùng. Dữ liệu này sẽ được phân tích để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố và hình ảnh thương hiệu.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về SWOM Và Hình Ảnh Thương Hiệu

Nghiên cứu này không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc xây dựng chiến lược marketing cho các doanh nghiệp. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa SWOMhình ảnh thương hiệu sẽ giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa chiến lược truyền thông của mình.

4.1. Chiến Lược Tăng Cường SWOM

Doanh nghiệp có thể áp dụng các chiến lược để khuyến khích SWOM, như tạo ra nội dung hấp dẫn và khuyến khích người tiêu dùng chia sẻ trải nghiệm của họ. Điều này sẽ giúp nâng cao hình ảnh thương hiệu trên mạng xã hội.

4.2. Đánh Giá Hình Ảnh Thương Hiệu Qua SWOM

Việc theo dõi và đánh giá hình ảnh thương hiệu qua SWOM sẽ giúp doanh nghiệp nhận diện được những điểm mạnh và điểm yếu trong chiến lược marketing của mình. Từ đó, có thể điều chỉnh kịp thời để cải thiện hình ảnh thương hiệu.

V. Kết Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Chất Lượng Cảm Nhận SWOM Và Hình Ảnh Thương Hiệu

Mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhận, SWOMhình ảnh thương hiệu trên mạng xã hội là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin quý giá cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng và duy trì hình ảnh thương hiệu tích cực.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về SWOM

Nghiên cứu về SWOM sẽ tiếp tục phát triển trong bối cảnh công nghệ ngày càng tiến bộ. Các doanh nghiệp cần theo dõi xu hướng mới để áp dụng hiệu quả trong chiến lược marketing của mình.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến SWOM và hình ảnh thương hiệu, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể cho doanh nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp đại học mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhận swom và hình ảnh thương hiệu trên phương tiện truyền thông xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu dựa trên nhận thức/ tâm lý. Trên cơ sở của những định nghĩa này đã hình thành đáng kể các chiều của khái niệm. Định nghĩa hình ảnh thương hiệu Phân loại Tác giả Định nghĩa Định nghĩa Newman, 1975 Một thương hiệu có thể được tổng hợp chung thành hình ảnh của mọi thứ mà mọi người liên kết với nó Herzog, 1963 Hình ảnh thương hiệu là tổng số lần hiển thị mà người tiêu dùng nhận được từ nhiều nguồn Dichter, 1985 Hình ảnh thương hiệu là việc cấu thành toàn bộ những vật, quảng cáo và quan trọng hơn là tính cách, thái độ của khách hàng mà chúng ta có thể quan sát được Định nghĩa nhấn Pohlman & Mudd, Hàng hóa đã mua mang lại hai loại giá mạnh vào biểu 1973 trị đối với chủ sở hữu của nó, mội là tượng chức năng tiện ích, hai là mang đến giá trị biểu tượng uy tín (hay hình ảnh) Noth, 1988 Hình ảnh thương hiệu bao gồm các vấn đề kỹ thuật, đặc tính sản phẩm, giá trị tài chính hoặc sự phù hợp với xã hội Sommers, 1964 Ý nghĩa mà một sản phẩm nhận được chính là biểu tượng của sản phẩm đó Định nghĩa nhấn Levy & Glick, 1973 Khái niệm hình ảnh thương hiệu được mạnh vào ý tổng hợp một cách khéo léo rằng người nghĩa hoặc thông tiêu dùng mua thương hiệu không chỉ điệp vì các thuộc tính và chức năng vật lý của chúng mà còn vì ý nghĩa liên quan đến nó Swartz, 1983 Ở người tiêu dùng tượng trưng, mối quan tâm nằm trong việc điều tra vai trò Vũ Thùy Duyên – D17PMR 24 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Tổng quan nghiên cứu của sản phẩm như là "thông điệp" Reynolds & Gutman, Tập hợp các ý nghĩa và liên kết nhằm 1984 phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ với đối thủ cạnh tranh Định nghĩa nhấn Hendon & Williams, Tính cách thương hiệu hay đặc điểm mạnh vào tính 1985 thương hiệu là việc mô tả một sản phẩm cách như thể nó là một con người Sirgy, 1985 Sản phẩm được cho là có hình ảnh tính cách khi nó hoạt động giống con người Định Gardner & Levy, 1955 Tập hợp các ý tưởng, cảm xúc và thái nghĩa nhấn mạnh độ mà người tiêu dùng có về thương nhận thức/tâm lý hiệu Martineau, 1957 Tổng thái độ, ý nghĩa, sự liên kết cảm giác, các thông điệp cảm giác được thể hiện bên trong và bên ngoài sản phẩm 1. Sự chuyển dịch định nghĩa về hình ảnh thương hiệu Bên cạnh năm hình thức liên quan khái niệm về hình ảnh thương hiệu kể trên, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự chuyển dịch về khái niệm được thể hiện dựa trên ba giai đoạn chính là từ năm 1950 đến 1970, những năm 1980 và từ 1990 cho đến nay.

Từ năm 1950 đến năm 1970 Từ 1950 đến những năm 1970, hình ảnh thương hiệu được định nghĩa là tổng các nhận thức và tình cảm của khách hàng với các thuộc tính vật lý của sản phẩm (Garner & Levy, 1955; Herzog, 1963; Levy, 1978; Newman, Năm 1957; Pohlman & Mudd, 1973). Các chức năng vật lý hình thành nên cơ sở của hình ảnh thương hiệu cũng như các liên tưởng xa hơn đối với các hàng hóa. Trong thời kỳ này, hình ảnh sản phẩm và hình ảnh thương hiệu chưa được phân biệt rõ ràng và được sử dụng thay thế cho nhau. Điều quan trọng cần lưu ý trong thời kỳ này là thuật ngữ về sản phẩm cơ bản có thể hoán đổi với thuật ngữ hàng hóa.

Tuy nhiên như chúng ta đã biết hàng hóa không bao gồm dịch vụ. Sau đó, hình ảnh sản phẩm được thay thế cho hầu hết các định nghĩa về hình ảnh thương hiệu (Pohlman & Mudd, 1973). Tuy nhiên, các khái niệm này hoàn toàn khác nhau về tính hữu hình của chúng; thương hiệu là tài sản vô hình tồn tại trong tâm trí khách hàng trong khi sản phẩm (hoặc hàng hóa) là tài sản vật chất tồn tại trong không gian vật chất của khách hàng. Những khái niệm này chỉ hợp nhất khi hình ảnh sản phẩm trở thành một phần của hình ảnh thương hiệu.

Vũ Thùy Duyên – D17PMR 25 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Tổng quan nghiên cứu 1. Những năm 1980 Khái niệm biểu tượng của thương hiệu đã trở nên phổ biến trong suốt những năm 1980 (Dobni & Zinkhan, 1990). Thương hiệu như một hiện tượng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, họ tin rằng các sản phẩm sẽ phản ánh đạo đức và khả năng hình dung về khách hàng của thương hiệu (Hendon & Williams, 1985; Sirgy, 1985). Trong suốt những năm 1980, hình ảnh thương hiệu được xác định, đo lường và nghiên cứu trong khuôn khổ của một khái niệm biểu tượng.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng thông điệp. Swartz, 1983), ý nghĩa (Durgee & Stuart, 1987; Reynolds & Gutman, 1984), và các liên kết để mô tả nhận thức trừu tượng trong tâm trí khách hàng. Trong giai đoạn này hình ảnh sản phẩm và hình ảnh thương hiệu đã được tách biệt với nhau. 1990 cho đến nay Ngay từ đầu những năm 1990, hình ảnh thương hiệu được miêu tả là tách biệt với hình ảnh sản phẩm.

Hình ảnh của một dịch vụ giờ đây cũng được coi là một phần của hình ảnh thương hiệu. Aaker (1991) và Keller (1993), hai nhà nghiên cứu lớn về thương hiệu đã làm thay đổi các định nghĩa trong đó có hình ảnh thương hiệu. Aaker (1996, trang 68) đã sử dụng khái niệm nhận dạng thương hiệu, đề cập đến “một tập hợp các liên kết độc đáo mà nhà chiến lược thương hiệu mong muốn tạo ra hoặc duy trì”. Trong mô tả của ông, nhận diện thương hiệu là hình ảnh mà công ty mong muốn khách hàng cảm nhận được.

Keller (1993) ban đầu xác định hình ảnh thương hiệu dựa trên “các mô hình mạng liên kết của bộ nhớ”. Cách tiếp cận này khẳng định rằng các nút thông tin của khách hàng được liên kết với thương hiệu trong ký ức của họ. Hình ảnh thương hiệu trên phương tiện truyền thông xã hội Ngày nay, phương tiện truyền thông xã hội được sử dụng để thu hút sự chú ý và tham gia của người tiêu dùng bởi các thương hiệu (Graves 2016). Theo Pozin (2014, 2), phương tiện truyền thông xã hội rất quan trọng trong việc “xây dựng thương hiệu, mua lại và giữ chân”.

Tầm quan trọng của phương tiện truyền thông xã hội trong chiến lược xây dựng thương hiệu là do số lượng người dùng phương tiện truyền thông xã hội đang hoạt động đã lớn và đang tăng lên. Một khía cạnh quan trọng của phương tiện truyền thông xã hội từ góc độ thương hiệu và tiếp thị, là người dùng có quyền kiểm soát nội dung họ xem, chia sẻ, tạo, hoặc bình luận. Điều này giúp người tiêu dùng có cái nhìn khách quan về thương hiệu từ đó hình thành nên hình ảnh thương hiệu trong tâm trí khách hàng. Phương tiện truyền thông xã hội có thể giúp củng cố hoặc thay đổi hình ảnh thương hiệu, nhưng để hưởng lợi từ sức mạnh của phương tiện truyền thông xã hội, các thương hiệu cần phải quản lý và duy trì sự hiện diện của họ liên tục (Pozin 2014, 2-3).

Các thương hiệu phải nhất quán trong phong cách truyền thông trên các phương Vũ Thùy Duyên – D17PMR 26 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Tổng quan nghiên cứu tiện truyền thông xã hội khác nhau, đồng thời tùy chỉnh nội dung để phù hợp với đặc điểm của từng nền tảng (Pozin 2014, 1) nhằm để người tiêu dùng có cái nhìn nhất quán với hình ảnh thương hiệu. Liên tưởng thương hiệu (Brand Association) Liên tưởng thương hiệu hay hình ảnh thương hiệu là những khía cạnh được chấp nhận nhiều nhất trong tài sản thương hiệu. Nó là bất cứ thứ gì được liên kết trong trí nhớ của khách hàng với thương hiệu. Liên tưởng thương hiệu được định nghĩa là bất kỳ thứ gì liên kết trong trí nhớ với một thương hiệu và hình ảnh thương hiệu thường theo một cách có ý nghĩa nào đó (Pitta & Katsanis 1995).

Liên tưởng thương hiệu liên quan đến các thuộc tính, lợi ích, thái độ có thể được lưu trữ trong tâm trí người tiêu dùng sau khi nhận thức về thương hiệu trong trí nhớ của họ (Keller 1993). Liên tưởng thương hiệu là một trong những thành phần quan trọng, cấu thành nên tài sản thương hiệu (Aaker ,1991; Yoo & Donthu, 1997). Những liên tưởng này được hình thành và phát triển khi người tiêu dùng tiếp xúc nhiều lần với thương hiệu. Keller (2008) chỉ ra rằng một thương hiệu có nhiều liên tưởng tích cực sẽ tạo nên nhiều tài sản thương hiệu tích cực dựa trên khách hàng.

Liên tưởng thương hiệu về cơ bản là rất cần thiết trong việc định vị và tạo sự khác biệt cho thương hiệu. Nó khơi dậy sự quan tâm của người tiêu dùng trong việc mua một thương hiệu và tạo ra thái độ tích cực đối với một thương hiệu. Liên tưởng thương hiệu là trọng tâm của tài sản thương hiệu. Khi khái niệm hóa tài sản thương hiệu Keller (1993) mô tả thái độ là mức độ liên kết thương hiệu cao nhất và trừu tượng nhất.

Mọi thứ mà các nhà tiếp thị làm đều tạo ra liên tưởng thương hiệu (Pitta & Katsanis 1995). Liên tưởng thương hiệu là khía cạnh được chấp nhận nhiều nhất trong tài sản thương hiệu (Aaker 1992). Các liên tưởng là cơ sở đại diện cho các quyết định mua hàng và sự trung thành của khách hàng với thương hiệu (Aaker 1991). Liên tưởng thương hiệu bao gồm tất cả những suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức, hình ảnh, kinh nghiệm, niềm tin và thái độ (Kotler 1988 & Keller 2008) liên quan đến thương hiệu và bất cứ thứ gì được liên kết trong kí ức với một thương hiệu.

Các nhà nghiên cứu khác Farquhar & Herr (1993), Chen (1996), Brown & Dacin (1997), Biel (1992) xác định các kiểu liên tưởng khác nhau đóng góp vào tài sản thương hiệu. Truyền miệng trên phương tiện truyền thông xã hội (SWOM) 1. Phương tiện truyền thông xã hội (social media) Phương tiện truyền thông xã hội là một phần không thể thiếu trong môi trường Internet hiện nay, với sự phát triển đáng kể trong vài thập kỷ qua. Ý tưởng về phương tiện truyền thông xã hội bắt đầu từ một diễn đàn thảo luận trên toàn thế giới có tên Usenet vào năm 1979.

Hai mươi năm sau, một cộng đồng trực tuyến gồm những người viết nhật ký được gọi là “Nhật ký mở - Open Dairy” xuất hiện. Đây chính là Vũ Thùy Duyên – D17PMR 27 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Tổng quan nghiên cứu cộng đồng đầu tiên tiến gần đến các trang phương tiện truyền thông xã hội như hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ