CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CUU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tài liệu 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Hiện nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến thời gian công bố thông tin BCTC. Các nghiên cứu da dạng về dit liệu nghiên cứu với các doanh nghiệp khác nhau, thời gian nghiên cứu khác nhau cũng như quy mô nghiên cứu trải dài trên các quốc gia khác nhau. Sau đây, tác giả tóm tắt một số công trình nghiên cứu nước ngoài tiêu biểu như sau: Asli Gunduzay TÙREL (2010) đã tập trung nghiên cứu tìm hiểu về việc công bố thông tin BCTC trong Thị trường vốn mới nỗi với các doanh nghiệp tại Thổ Nhĩ Kỳ. Đối tượng nghiên cứu này là từ BCTC và bao cáo kiểm toán của 211 công ty niêm yết không hoạt động trong Tũrel, nằm trong 130 ngành tài chính đã được phân tích.
Phân tích mô tả chi ra rang 59% các công ty lập BCTC riêng và 66% các công ty lập BCTC hợp nhất phát hành BCTC của họ trong thời gian quy định của bộ tài chính. 28% các công ty chuẩn bị riêng BCTC và 16% số công ty chuẩn bị hợp nhất BCTC vượt quá thời hạn quy định. Các biến độc lập: Kiểm toán Big4, Lợi nhuận doanh nghiệp và ngành nghề hoạt động đều có ý nghĩa. Trong đó, các công ty được kiểm toán bởi Big4 và có lợi nhuận dương đều công bố BCTC sớm hơn.
Tuy nhiên, kết quả ngược lại với nhân tổ ngành nghề hoạt động. Như vậy, có thé thấy rằng các doanh nghiệp ngành sản xuất sẽ công bồ thông tin chậm hơn so với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực hoạt động khác. Mặc dù những kết luận này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, chúng nên được xem xét dưới góc độ của những hạn chế này. Đầu tiên, kết quả có thể không chung cho các công ty tài chính được liệt kê bởi các công ty tài chính không được cân nhắc đến.
Thứ hai, nghiên cứu này chưa cân nhắc một số các yếu tô khác cũng có thể ảnh hưởng đến tính kịp thời trong báo cáo. Cuối cùng, nghiên cứu này điều tra hành vi báo cáo kịp thời của các công ty niêm yết ISE tại một thời điêm cụ thê. 17 Nghiên cứu của Khaldoon Ahmad Mohammad Aldaoud (2015) được tiễn hành tại Jordan với 448 doanh nghiệp niêm yết trong các ngành nghề khác nhau đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số nhân tố đến thời gian công bố thông tin BCTC bao gồm: Nhóm biến của đặc điểm của Hội đồng quản trị, nhóm biển uỷ ban kiểm toán, ý kiến kiểm toán viên, sự thay đổi kiểm toán viên, công ty kiểm toán, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu bởi tổ chức. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra những tác động khác nhau của các nhân tố đến tính kịp thời của công bố thông tin BCTC của các doanh nghiệp.
Trong đó, nhóm biến đặc điểm của HĐQT, uỷ ban kiểm toán, Công ty kiểm toán và sở hữu nước ngoài có mối quan hệ cùng chiều đến biến phụ thuộc. Tuy nhiên, kết quả ngược lại thé hiện qua các biến ý kiến kiểm toán. Nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn chỉ tiết về ảnh hưởng của đặc điểm uỷ ban kiểm toán, tập trung quyền sở hữu cũng như các yếu tố liên quan đến kiểm toán độc lập đến việc cung cấp thông tin trên BCTC. Điều này góp phần giúp các nhà quản trị doanh nghiệp, cơ quan tô chức quan ly nhà nước có những biện pháp thúc đây việc công bố thông tin của các doanh nghiệp nhanh chóng, kịp thời và đạt được hiệu quả cao.
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa dé cập đến các nhân tô tài chính - đây cũng là những nhân tổ ảnh hưởng lớn đến thời gian công bố của thông tin trên BCTC của doanh nghiệp. Đồng thời những đặc điểm của hội đồng kiểm toán cũng chưa được khai thác một cách chi tiết dé cho thay su ảnh hưởng đến thời gian công bố thông tin báo cáo tài chính. Nghiên cứu của Mohamed A. Basuony và các cộng sự (2016) với đề tai đặc tính của ban giám đốc, cấu trúc vốn và thời gian của công bố thông tin của các doanh nghiệp tại Trung Đông được tiến hành từ năm 2009 đến năm 2013 với 201 doanh nghiệp tại 11 quốc gia với các nhân tố được sử dụng đó là: quy mô hội đồng quản trị, sự độc lập của hội đồng quản tri, sự phân quyền CEO, tỷ lệ sở hữu hội đồng quan tri, tập trung quyền sở hữu, sở hữu bởi tổ chức va sở hữu bởi các doanh nghiệp nước ngoài.
Nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa sự độc lập của hội đồng quản trị, sự phân quyền CEO, tập trung quyền sở hữu, lợi nhuận doanh nghiệp và thời gian công bồ thông tin BCTC. Trái lại, mối quan hệ cùng chiều được thê hiện qua ty lệ sở hữu bởi tô chức, sở hữu bởi nước ngoài và doanh nghiệp kiểm toán Big4. Kết 18 quả của nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp lựa chọn Big4 làm doanh nghiệp kiểm toán thường công bố thông tin báo cáo tài chính trong vòng 60 ngày ké từ ngày kết thúc năm tài chính. Qua đó, cũng thể hiện hiệu quả làm việc của các doanh nghiệp kiêm toán Big4.
Nghiên cứu cũng đồng thời thé hiện răng thời gian công bố thông tin của các doanh nghiệp ngành sản xuất thường chậm trễ hơn so với các doanh nghiệp ngành dịch vụ. PK Haldar và Lokanath Mishra (2016) cũng đã nghiên cứu về thời gian của BCTC và quản trị doanh nghiệp về ngành công nghiệp dược pham của An Độ. Bằng việc thu thập và phân tích dir liệu từ 169 công ty dược phẩm được niêm yết với Sở giao dịch chứng khoán Bombay năm 2014, tác giả đã đưa ra giả thiết rằng có 6 nhân tố ảnh hưởng tới thời gian công bố của BCTC đó là: số năm hoạt động, quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận doanh nghiệp, vốn nước ngoài, doanh thu từ nước ngoài và sự đa dạng của nguồn vốn. Bằng phương pháp hồi quy, ba nhân tố: số năm hoạt động, có vốn nước ngoài và doanh thu từ nước ngoài có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng tới biến phụ thuộc được nghiên cứu.
Trong đó, số năm hoạt động của doanh nghiệp và doanh thu từ nước ngoài có tác động ngược chiều với thời gian công bố BCTC, nhân tố doanh nghiệp có nguồn tài trợ vốn từ nước ngoài lai tác động cùng chiều. Tác giả cũng đã đưa ra một số khuyến nghị, chính sách giúp các doanh nghiệp nâng cao ý thức và rút ngăn thời gian công bố BCTC. Tuy nhiên, bài nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một số doanh nghiệp ngành được phẩm, vì vậy có thé số lượng mẫu được chọn chưa mang tính đại diện cao. Bên cạnh đó, thời gian nghiên cứu cách thời điểm hiện tại khá xa nên số liệu và kết quả nghiên cứu cũng có thể có sự thay đổi so với hiện tại - khi nền kinh tế có nhiều biến động phức tạp.
Nghiên cứu của hai tác gid Omar Al-Juaidi và Ahmed A (2016) với đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian công bố BCTC của 180 doanh nghiệp niêm yết trên sản chứng khoán Palestine và Amman năm 2016 đã chỉ ra 9 nhân t6 được sử dụng bao gồm quy mô, lợi nhuận doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động, đòn bẩy tài chính, kiểm toán viên, báo cáo kiểm toán, sự thay đổi doanh nghiệp kiểm toán, loại báo cáo kiêm toán và thời gian công bô báo cáo kiêm toán. Kêt quả của nghiên cứu chỉ ra rang 19 các doanh nghiệp niêm yết tại Palestine và Amman thường công bố thông tin báo cáo tài chính trong khoảng 70 ngày từ khi kết thúc năm tài chính (trong thời gian quy định). Hơn nữa các nhân tố ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp và kiểm toán viên tác động ngược chiều với thời gian công bố của BCTC. Đồng thời, nếu như các doanh nghiệp kiểm toán chậm trễ trong quá trình kiểm toán cũng dẫn đến việc báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thường công bố chậm hơn.
Cuối cùng, bài nghiên cứu cũng đề xuất một số biện pháp nhằm giúp doanh nghiệp có thê công bố BCTC kịp thời và trong thời gian sớm nhất. Tuy nhiên bài nghiên cứu được viết trong thời gian khá lâu về trước mà so với sự phát triển hiện nay sẽ có sự thay đổi nhất định. Thêm vào đó là đề tài nghiên cứu về các doanh nghiệp trên thị trường hối đoái Palestine và thị trường tài chính Jordan vì vậy ít nhiều sẽ có sự khác biệt đối với các doanh nghiệp niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu thời gian công bố của BCTC của Omer Faruk Gilec năm 2017 với các công ty ở Turkey với 7 biến độc lập, bao gồm: Quy mô doanh nghiệp, đòn bây tài chính, lợi nhuận hoạt động, giá tri số sách, cô tức trên mỗi cô phiếu , loại BCTC và kiểm toán viên.
150 công ty phi tài chính trên Borsa Istanbul trong giai đoạn 2009-2014 đã được tiến hành nghiên cứu bằng phương pháp phân tích hồi quy bội số, 4 nhân tố ảnh hưởng đến thời gian công bố thông tin BCTC của các công ty được chỉ ra bao gồm: quy mô doanh nghiệp, cổ tức trên mỗi cô phiếu, kiểm toán viên và lợi nhuận hoạt động. Trong đó, tất cả các nhân tô này đều tác động ngược chiều với biến phụ thuộc được nghiên cứu. Nghiên cứu đã chỉ ra những đặc tính quan trọng của thông tin tài chính và vai trò của doanh nghiệp khi công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời tới người sử dụng thông tin dé đưa ra các quyết định kinh tế. Tuy nhiên đề tài lại nghiên cứu về tính kịp thời của các công ty tại Turkey- nơi ít nhiều có sự khác biệt về kinh tế, xã hội, chính trị so với Việt Nam, đồng thời thời gian nghiên cứu của bài nghiên cứu là giai đoạn 2009-2014, trong khi đó trong giai đoạn ngày nay, it nhiều đã có sự thay đổi về kinh tế, văn hoá và chính tri.
Bài nghiên cứu của John Ohaka và Fyneface N. Akani (2017) đã nghiên cứu thời gian thông tin BCTC được công bố của các công ty ở Nigeria. Dữ liệu sử dụng 20 được thu thập từ các báo cáo hàng năm và Sách Sự kiện NSE trong 12 năm (2000- 2011). Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra 6 nhân tố ảnh hưởng đến thời gian công bố của BCTC đó là: quy mô công ty (FS), tính độc lập của hội đồng quản trị (BI), hiệu quả hoạt động của công ty (FP), nợ (DB) và số năm hoạt động của doanh nghiệp (AG).