chương I, đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu. 6 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các nội dung về quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật phân tích dữ liệu và thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương này tập trung vào việc phân tích và bàn luận về kết quả của nghiên cứu.
Nhận xét và đề xuất kiến nghị. Chương này đưa ra nhận xét chung và trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan đến việc sử dụng, tạo lập và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN VỀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Nội dung chính của chương này, tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về cách tiếp cận các phương pháp đo lường chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK, để trên cơ sở đó tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu đề xuất hướng nghiên cứu của luận án, vì vậy, nội dung của chương này bao gồm: - Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên cứu trước đây; - Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC; - Khe hổng nghiên cứu. Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên cứu trước đây Trong bất kỳ một nghiên cứu nào có liên quan đến chất lượng BCTC, mặc dù chất lượng BCTC đóng vai trò là nhân tố tác động hay nhân tố bị tác động thì việc đo lường chất lượng BCTC là rất quan trọng, vì nó quyết định đến hiệu quả một cuộc nghiên cứu.
Tuy nhiên, chất lượng BCTC là khó có thể quan sát trực tiếp được, xuất phát từ đặc điểm này, trong các nghiên cứu trước đây cũng đã sử dụng nhiều phương pháp đo lường khác nhau và có thể chia làm 2 nhóm phương pháp chính: Đo lường theo đặc điểm chất lượng BCTC và đo lường theo chất lượng lợi nhuận. Đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng Phương pháp đo lường chất lượng BCTC thông qua đặc điểm chất lượng nhằm đánh giá các khía cạnh và kích thước của thông tài chính và thông tin phi tài của BCTC nhằm xác định tính hữu ích của thông tin tài chính đó. Phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng đó là chất lượng BCTC được đánh giá dựa trên các thang 8 đo được xây dựng dựa trên các đặc điểm chất lượng của FASB đó là 2 đặc điểm cơ bản: Thích hợp và đáng tin cậy và 2 đặc điểm thứ yếu: Nhất quán và có thể so sánh, các đặc điểm chất lượng của IASB đó là có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được và các đặc điểm theo quan điểm của dự án hội tụ của FASB và IASB đó là 2 đặc điểm nền tảng: Thích hợp và trình bày trung thực và 4 đặc điểm bổ sung bao gồm có thể so sánh, có thể kiểm chứng, tính kịp thời và có thể hiểu được. Có nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng như trên.
Các nghiên cứu này xoay quanh những vấn đề như đánh giá các đặc điểm chất lượng, các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm chất lượng hay các đặc điểm chất lượng trên khía cạnh quan điểm của người sử dụng nói chung hay KTV, nhà đầu tư nói riêng… Nghiên cứu đầu tiên mà tác giả muốn đề cập đến là nghiên cứu của Beest và các cộng sự (2009). Nghiên cứu này đánh giá định lượng các đặc điểm chất lượng của BCTC dựa trên các đặc điểm cơ bản và các đặc điểm bổ sung theo CF. Nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu từ 231 BCTC của các công ty niêm yết ở các sàn chứng khoán ở Mỹ, Anh và Hà Lan năm 2005-2007, sử dụng BCTC để đánh giá 21 chỉ tiêu chất lượng chi tiết. Các đặc điểm chất lượng được ước lượng mức độ thông qua các chỉ tiêu cấu thành dựa trên thang đo năm mức độ Likert.
Hơn nữa, nghiên cứu của Beest và các cộng sự còn tiến hành xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy nhằm kiểm định các hệ số hồi quy, phương trình hồi quy, hiện tượng đa cộng tuyến giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Nghiên cứu này cũng góp phần cải thiện việc đánh giá các đặc điểm chất lượng của thông tin và đưa ra các giải pháp cần thiết. Beest và Braam (2011) tiếp tục có một nghiên cứu về đặc điểm chất lượng, nhưng lần này nghiên cứu tập trung vào sự khác biệt của các đặc điểm giữa hai hệ thống chuẩn mực IFRS và US GAAP hay cũng là sự khác biệt giữa BCTC của Anh và Mỹ.
Nghiên cứu được xây dựng trên 31 nhân tố dựa trên các đặc điểm chất lượng và tiến hành lấy mẫu khảo sát từ 71 BCTC của các DN ở Anh và 71 báo cáo khác ở Mỹ trong năm 2009. Kết quả cho thấy: nhìn chung, báo cáo của Anh thích hợp, trình bày trung thực và dễ hiểu hơn so với báo cáo của Mỹ. Tuy nhiên, các báo cáo của Mỹ có khả năng so sánh được cao hơn các báo cáo của Anh. 9 Trong nghiên cứu Beest và các cộng sự (2009) và một số nghiên cứu khác của Jara và các cộng sự (2011), Bauwhede (2001) cũng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến các đặc điểm chất lượng.
Đa số các nghiên cứu ứng dụng phương pháp nghiên cứu của Jonas and Blanchet (2000). Một trong những mục đích của nghiên cứu Beest và các cộng sự (2009) là xây dựng thang đo cho các đặc điểm chất lượng: tính thích hợp, trình bày trung thực, có thể so sánh được, kịp thời, có thể hiểu được. Sau khi thu thập dữ liệu dựa vào các BCTC, nghiên cứu này tiến hành xây dựng hàm hồi quy về những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm chất lượng được đề cập đến là CMKT, quốc gia, ngành nghề, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, năm… Mẫu nghiên cứu của Beest các cộng sự (2009) là 120 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán của Mỹ, Anh, Hà Lan trong năm 2005 và 111 công ty trong năm 2007 được lấy từ các ngành kinh doanh khác nhau.
Đồng thời, các công ty này áp dụng theo hai khung CMKT là IFRS và US GAAP. Cũng trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2007, có sự chênh lệch về số lượng công ty niêm yết là do có 9 công ty rời sàn hoặc một trong các công ty này chưa công bố BCTC trước ngay thời điểm thu thập số liệu của nghiên cứu. Do vậy, các biến độc lập có liên quan là CMKT (IFRS và US GAAP), quốc gia (Mỹ, Anh, Hà Lan), ngành nghề, năm. Sau đó, Beest và các cộng sự (2009) thực hiện các kiểm định cần thiết trong phương pháp hồi quy OLS để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố cũng như độ tin cậy của mô hình.
Tiếp cận theo một hướng khác, nghiên cứu của Saheli & Nassirzadeh (2012) chỉ ra sự khác nhau giữa các quan điểm về đặc điểm chất lượng trên nhiều khía cạnh tiếp cận. Nghiên cứu cung cấp những thống kê thực nghiệm từ việc khảo sát các nhà đầu tư ở Iran về các đặc điểm chất lượng – những người có hiểu biết về kế toán và không có hiểu biết về kế toán. Cùng cách tiếp cận, Terzungwe (2013) đã nghiên cứu ý kiến về chất lượng BCTC ở Nigeria của các đối tượng liên quan đến BCTC. Terzungwe (2013) lấy kết quả thống kê từ 100 bảng khảo sát và phân tích thống kê về ý kiến đã được cung cấp.
Các nhà nghiên cứu không chỉ nghiên cứu các đặc điểm theo cách nhìn của đối tượng liên quan nói chung mà còn trên những của góc nhìn riêng của các đối tượng như kế toán viên, KTV, các nhà đầu tư. 10 Tasios (2012) đã thực hiện nghiên cứu của mình thông qua việc tiếp cận ý kiến từ các KTV đối với các đặc điểm chất lượng. Quá trình thu thập ý kiến được tiến hành rất cẩn thận từ việc xây dựng bảng câu hỏi đến việc xử lý số liệu. Nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của các đặc điểm chất lượng đối với KTV ở Hy Lạp.
Một nghiên cứu nữa về quan điểm của KTV và nhà đầu tư đối với tầm quan trọng của các đặc điểm chất lượng của thông tin là nghiên cứu của Obaidat (2007) đã xây dựng bảng khảo sát để thu thập ý kiến từ 25 nhà đầu tư và 29 KTV. Kết quả cho thấy, tất cả các đặc điểm chất lượng đều ảnh hưởng đến các quyết định và tồn tại sự khác nhau trong ý kiến của KTV, nhà đầu tư về mức độ quan trọng của các nhân tố chất lượng. Không nhằm vào các mục đích đo lường chất lượng lợi nhuận, đánh giá các yếu tố chi tiết của BCTC, mục đích hướng đến của phương pháp trên là đánh giá mức độ hữu ích của thông tin thông qua các đặc điểm chất lượng. Lợi ích có được từ phương pháp là sự tập trung nghiên cứu vào các đặc điểm chất lượng, trong khi các mô hình khác tập trung vào các khía cạnh của việc quản trị lợi nhuận hay giá cả của cổ phiếu.
Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là khó xác định thang đo cho các đặc điểm chất lượng, đồng thời, chính vì đánh giá này dựa trên cơ sở thang đo nên nó còn có hạn chế là kết quả thu thập được không có độ tin cậy cao vì nó phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người đánh giá và mang tính cảm tính cao như người đánh giá này cho điểm chỉ tiêu này đối với BCTC cao nhưng có thể theo quan điểm của người khác là chưa cao.