Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về các nhân tố ảnh hƣởng độ tin cậy của một BCTCcủa các Công ty niêm yết có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên Sở GDCK Tp. HCM và thực trạng của việc đƣa ra các nhận x t đánh giá đó. trên cơ sở đó đƣa ra các kết quả đạt đƣợc. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Bao gồm trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, các lý thuyết đƣợc sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày nội dung và phát triển các giả thuyết nghiên cứu,đƣa ra mô hình nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, cách thu thập và phƣơng pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá về kết quả nghiên cứu đƣợc thực hiện và thảo luận về các nhân tố ảnh hƣởng đến độ tin cậy của một BCTCcủa các Công ty niêm yết có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên Sở GDCK TP. HCM Chương 5: Kết luận và kiến nghị Nhận x t chung và đƣa ra kết luận của vấn đề nghiên cứu, nêu đƣợc hàm ý của đề tài và các hạn chế của nghiên cứu đồng thời định hƣớng cho các nghiên cứu trong tƣơng lai. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Cho đến nay, chủ đề về chất lƣợng báo cáo tài chính đã đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tiến hành xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, đáng chú ý là độ tin cậy của chất lƣợng lợi nhuận trông BCTC.
Các nhân tố tác động đến chất lƣợng BCTC bao gồm các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài. Các nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến đó là Healy, P. (1985), Gaver và các cộng sự (1995), Holthasen và các cộng sự (1995), Habib và Azim (2008), Jamaluddin và các cộng sự (2009), Klai (2011), Radzi và các cộng sự (2011), Dechow và các cộng sự (2011), Abed và các cộng sự (2012), Chalaki và các cộng sự (2012), Waweru và Riro (2013),Hassan (2013), Ahmed (2013), Alves (2014), … Những nghiên cứu trên thế giới trƣớc đây có liên quan đến chất lƣợng của báo cáo tài chính có thể kể đến nghiên cứu của Dimitropoulos và cộng sự (2009), The value relevance of financial statements and their impact on stock prices: “Evidence from Greece”. International Journal of Economics and Finance, 248- 265, về mối quan hệ giữa thông tin trên BCTC và giá cổ phiếu thực hiện trên TTCK Hy Lạp.
Dữ liệu đƣợc thu thập với mẫu là 101 công ty phi tài chính đƣợc niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Athens. Khung thời gian kéo dài từ 1995 đến 2004 và phƣơng pháp đƣợc sử dụng là các mô hình hồi quy OLS. Kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ vốn lƣu động trên tổng tài sản và lợi nhuận ròng bán hàng có tác động tiêu cực đến lợi nhuận chứng khoán, trong khi tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản và doanh thu trên tổng tài sản ảnh hƣởng tích cực đến lợi nhuận. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy rằng các điều kiện kinh doanh và các biện pháp can thiệp quản lý dẫn đến sự thay đổi thu nhập trên cổ phiếu là một yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến chất lƣợng BCTC.
Ngoài ra những nghiên cứu trên thế giới trƣớc đây về độ tin cậy và ảnh hƣởng của nó đến chất lƣợng chất lƣợng của báo cáo tài chính: theo nghiên cứu của McNichols và Stubben (2008). “Does Earnings Management Affect Firms‟ 8 Investment Decisions?”. The Accounting Review: November 2008, Vol. Bài viết này xem xét liệu các công ty thao túng kết quả tài chính đƣợc báo cáo của họ có đƣa ra quyết định đầu tƣ tối ƣu không.
Nghiên cứu xem xét các khoản đầu tƣ tài sản cố định cho một lƣợng lớn các công ty đại chúng trong giai đoạn 1978-2002 và ghi nhận rằng các công ty do SEC điều tra về các bất thƣờng kế toán, các công ty bị các cổ đông của họ kiện vì kế toán không đúng và các công ty đã thu hồi BCTC do thông tin bị sai lệch. Ngoài ra, nghiên cữu cũng cho thấy rằng quản lý thu nhập, phần lớn đƣợc xem là các bên nhắm mục tiêu bên ngoài công ty, cũng có thể ảnh hƣởng đến các quyết định nội bộ, thì độ tin cậy góp phần ảnh hƣởng vào các quyết định đầu tƣ của nhà quản lý. Độ tin cậy của báo cáo tài chính có thể giải thích bởi sự thay đổi các khoản phải thu biến thiên theo sự tăng doanh thu. Dechow và Dichev (2008).: Does Earnings Management Affect Firms‟ Investment Decisions?”.
The Accounting Review: November 2008, Vol. 1571-1603 đã đề xuất một thƣớc đo mới về chất lƣợng của các khoản thu nhập và thu nhập từ vốn lƣu động. Việc thay đổi hoặc điều chỉnh việc ghi nhận dòng tiền theo thời gian để các số liệu (thu nhập) đo lƣờng hiệu suất công ty tốt hơn. Tuy nhiên, các khoản tích luỹ đòi hỏi các giả định và ƣớc tính của các luồng tiền trong tƣơng lai.
Kết quả nghiên cứu cho rằng độ tin cậy của BCTC đƣợc đo lƣờng bởi sự thay đổi vốn lƣu động và dòng tiền hoạt động. Nghiên cứu của Cutillas Gomariz, M Fuensanta & Sánchez Ballesta, Juan Pedro, 2014.“Financial reporting quality, debt maturity and investment efficiency”. Journal of Banking & Finance, Elsevier, vol. 40(C), pages 494-506 đƣợc tiến hành với mẫu là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Madrid của Tây Ban Nha trong giai đoạn 1998-2008, bao gồm 1.039 quan sát và đƣợc giới hạn còn 576 doanh nghiệp tài chính, dữ liệu đƣợc tiếp tục chọn lọc dựa trên biện pháp chất lƣợng của Dechow và Dichev (2002), vì vậy biến quan sát còn 500 dùng để xem xét vai trò của chất lƣợng báo cáo tài chính và nợ trong hiệu quả đầu tƣ.
Kết quả cho thấy chất lƣợng báo cáo tài chính sẽ kém tin cậy nếu đầu tƣ quá mức. 9 Tƣơng tự nhƣ vậy, nếu nợ thấp hơn có thể cải thiện hiệu quả đầu tƣ, giảm cả vấn đề đầu tƣ quá mức và đầu tƣ. Do đó, báo cáo tài chính có độ tin cậy tốt giúp hạn chế tình trạng đầu tƣ quá mức và dƣới mức. Nghiên cứu của Celine Michailesco (2010) đã tiến hành tìm hiểu các nhân tố tác động đến chất lƣợng thông tin BCTC của các doanh nghiệp ở Pháp từ năm 1991 đến năm 1995.
Nghiên cứu của Celine Michailesco (2010) đƣợc thực hiện thông qua khảo sát hơn 100 doanh nghiệp tại Pháp có niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán liên tục trong 5 năm. Tác giả đã tiến hành phân tích dữ liệu với 2 giai đoạn gồm mô tả phân tích nghiên cứu định lƣợng để kiểm tra mối liên hệ giữa các nhân tố và phân tích mối quan hệ của chúng thông qua kết quả hồi quy. Kết quả cho thấy mô hình có R2 dao động từ 10.13% theo các năm và cho thấy rằng sự phân bố quyền sở hữu tác động đến chất lƣợng thông tin BCTC. Nghiên cứu của Jan Barton và Paul J.
Nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra sự trung thực của BCTC dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận cũng nhƣ xem x t sự ảnh hƣởng của các biến đến độ tin cậy của BCTC bao gồm EPS (lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu), quy mô công ty, lợi nhuận, quy mô công ty kiểm toán thông qua cuộc khảo sát 3,649 doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 1993-1999. Shaw (1980), Campell (1985) nhận định rằng kiểm toán độc lập là một trong những yếu tố mang lại sự tin cậy cho báo cáo tài chính của doanh ngiệp nó góp phần hạn chế rủi ro gian lận trọng yếu.“Auditor brand name reputations and industry specializations”.Journal of Accounting and Economics, Pages 297-322, với mầu là 1.484 công ty đƣợc niêm yết ở Úc về báo cáo tài chính đã đƣợc kiểm toán bởi các công ty kiểm toán có chất lƣợng ảnh hƣởng đến quyết định của nhà đầu tƣ. Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác của Chow (1983), … cũng cho ý kiến tƣơng đồng. Chow and Steven J.“Qualified Audit Opinions and Auditor Switching”.The Accounting Review, 326-335 thực hiện nghiên cứu với 127 doanh nghiệp trong số 373 doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu khí cho thấy rằng yếu tố chấp nhận kiểm toán bởi các nhà quản lý góp phần nâng cao độ tin cậy của một báo cáo tài chính.2 Các nghiên cứu trong nƣớc Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2008) về nâng cao tính hữu ích của báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam chỉ ra những hạn chế của hệ thống kế toán và tác động của các yếu tố môi trƣờng là cho BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam chƣa thực sự đáp ứng nhu cầu thông tin chất lƣợng và đáng tin cậy cho các đối tƣợng sử dụng thông tin kế toán về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
Nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần (2016).“Tác động của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đáng của chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính”. Tạp chí phát triển kinh tế (53-75) về chất lƣợng thông tin báo cáo tài chính bằng phƣơng pháp định tính và định lƣợng chứng minh đƣợc chất lƣợng thông tin báo cáo tài chính bị tác động bởi các yếu tố bao gồm các nhân tố bên trong doanh nghiệp nhƣ Hành vi quản trị lợi nhuận, Hỗ trợ từ phía nhà quản trị, Đào tạo và bồi dƣỡng nhân viên, Chất lƣợng phần mềm kế toán, Hiệu quả của hệ thống kiếm soát nội bộ, Năng lực nhân viên kế toán; và các yếu tố bên ngoài nhƣ Áp lực từ thuế và báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán độc lập, cuối cùng là các nhân tố phản ánh thuộc tính của doanh nghiệp nhƣ niêm yết chứng khoán và quy mô doanh nghiệp. Trong đó yếu tố Hành vi quản trị lợi nhuận và tác động từ thuế sẽ là tác động cùng chiều đến việc gian lận báo cáo tàichính. Nghiên cứu của Phan Thị hằng Nga và Phan Thị Trà Mỹ (2017).“Các yếu tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp”.