Chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Xem xét các nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ở các khía cạnh sau: xu hướng thể hiện mối quan hệ này, phương pháp nghiên cứu, những ưu điểm và hạn chế của các nghiên cứu đi trước. Từ đó xác định khoảng trống trong nghiên cứu của đề tài.1 Các nghiên cứu ngoài nước 1.1 Các nghiên cứu lý thuyết Quan điểm của Karl.Marx (1818 – 1883): Karl Marx đưa ra khái niệm tổng sản phẩm xã hội là toàn bộ sản phẩm mà xã hội sản xuất trong năm. Giá trị xã hội của hàng hóa gồm: c + v + m.
Quan điểm của Marx, tư bản bao gồm “tư bản khả biến” là quỹ tiền lương phải trả cho người lao động (v), “tư bản bất biến” là quỹ tiền mua hàng hóa tư bản, các sản phẩm trung gian (c). Marx cho rằng, nhà tư bản phải mua nguyên vật liệu và máy móc thiết bị với giá bằng giá trị mà “tư bản bất biến” đó tạo ra, vì vậy việc sử dụng “tư bản bất biến” không tạo ra giá trị thặng dư (hay còn gọi là lợi nhuận). Mặt khác, nhà tư bản sẽ áp đặt mức tiền lương thấp hơn giá trị mà người lao động làm ra. Khi đó, chỉ có “tư bản khả biến” mới mang lại giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tỷ suất lợi nhuận giảm dần sẽ khuyến khích các nhà tư bản tiếp tục giảm tiền lương công nhân và từ đó đẩy cuộc sống của người lao động rơi vào khó khăn. Marx mô tả quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa nhất thiết đi đôi với sự bất bình đẳng thu nhập ngày càng cao, thu nhập của người công nhân ngày càng giảm so với thu nhập của nhà tư bản do hiệu ứng tiết kiệm lao động khi sử dụng công nghệ hiện đại và họ luôn phải chịu sự đe dọa bị sa thải [24, tr37]. Marx cho rằng chính quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là nguồn gốc của bất bình đẳng thu nhập, vì vậy cần xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu để giải 8 quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Ý nghĩa phương pháp luận trong lý thuyết của Marx thể hiện ở hai khía cạnh chính sau đây: (i) Công bằng xã hội là kết quả của quá trình phát triển lịch sử đời sống xã hội theo quy luật khách quan; (ii) mặc dù trong giai đoạn phát triển thấp của chủ nghĩa cộng sản có thiết lập chế độ công hữu nhưng hình thức phân phối mới chưa đạt tới mục tiêu thực sự công bằng.
Marx nhấn mạnh cần phát triển năng lực của mỗi cá nhân, khai thác hết tiềm năng của người lao động hướng tới sự phát triển tự do và công bằng chân chính [70] Quan điểm của Simon Kuznets (1955) Simon Kuznets, nhà kinh tế học người Mỹ năm 1955 đã đưa ra một mô hình nghiên cứu khi xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. “Những gì chúng ta quan sát thấy về cấu trúc phân phối thu nhập của hai khu vực là: (a) thu nhập bình quân đầu người của người dân ở nông thôn thường thấp hơn các khu đô thị; (b) Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cho người dân ở nông thôn có phần hẹp hơn so với dân số ở đô thị thậm chí khi dựa trên thu nhập hàng năm” [124, tr7] Theo mô hình này, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển các nước thường không quan tâm đến phân phối lại thu nhập. Giai đoạn này cùng với việc đạt được các thành tựu về tăng trưởng (thu nhập bình quân đầu người tăng) thì sự bất bình đẳng lại có xu hướng tăng, kết quả của tăng trưởng chỉ tập trung vào một số nhóm người. Khi nền kinh tế đã đạt được mức thu nhập bình quân đầu người cao thì sự bất bình đẳng mới có xu hướng giảm dần cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế.
Bigsten và Levin (2001) khi nghiên cứu mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế cũng đồng tình với quan điểm cho rằng ở các nước kém phát triển tình trạng bất bình đẳng có xu hướng gia tăng. Có thể chấp nhận được bất bình đẳng nếu bất bình đẳng tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tốt hơn, từ đó tạo tiền đề vật chất giúp xóa đói giảm nghèo [102] Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau này chỉ ra quan điểm của Kuznets không phải luôn chính xác. Hạn chế của Kuznets là không phân tích làm rõ nguyên nhân dẫn tới tình trạng bất bình đẳng. 9 Quan điểm của A.Lewis (1915 - 1991) Nhất trí với quan điểm cho rằng bất bình đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó giảm bớt khi đã đạt được tới mức độ nhất định của Kuznets.
Tuy nhiên, quan điểm của Lewis giải thích được nguyên nhân của xu thế này. Sở dĩ bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu cùng với sự gia tăng phát triển công nghiệp ở khu vực đô thị: trong khi lương công nhân ở mức tối thiểu (không thay đổi), thì thu nhập của tư bản lại gia tăng do mở rộng quy mô sản xuất và do lao động của công nhân mang lại. Ở giai đoạn sau, bất bình đẳng sẽ giảm vì khi lao động dư thừa trong nông nghiệp đã được thu hút hết vào khu vực thành thị. Nhu cầu lao động vẫn tăng lên, nhưng lao động khan hiếm; do đó, phải tăng tiền công trong công nghiệp, lúc này bất bình đẳng sẽ giảm [127].
Theo quan điểm này, bất bình đẳng không chỉ là kết quả mà còn là điều kiện cần thiết của tăng trưởng. Bất bình đẳng làm cho các nhà tư bản và các nhóm thu nhập cao nhận được nhiều thu nhập hơn, do đó họ sẽ tiết kiệm được nhiều hơn để tích lũy, mở rộng sản xuất. Các nhà kinh tế theo trường phái này còn cho rằng bất bình đẳng không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà khi sử dụng các chính sách phân phối lại hấp tấp và nóng vội có thể dẫn đến nguy cơ kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết mô hình kinh tế chính trị Alesia và Rodrik (1994); Pesson và Tabellini (1994) [93],[139] đã cố gắng xây dựng cầu nối giữa lý thuyết kinh tế chính trị nội sinh và lý thuyết tăng trưởng nội sinh.
Nghiên cứu này cho rằng, trong những xã hội dân chủ, mức thuế được xác định bởi những cử tri trung bình. Thuế được đánh tỷ lệ thuận với thu nhập và mang tính lũy tiến (thuế lũy tiến nhằm phân phối lại thu nhập cho mọi người một cách công bằng hơn). Lúc này lợi ích mà người nghèo nhận được sẽ lớn hơn người giàu, vì vậy người nghèo sẽ thích đánh thuế lũy tiến để phân phối lại nhiều hơn. Trong xã hội không bình đẳng, thu nhập của cử tri trung bình thấp hơn so với thu nhập trung bình, quy tắc đa số sẽ quyết định mức phân phối lại cao.
Mặc dù cách thức phân phối này có thể tác động làm giảm nghèo đói tức thì, nhưng tăng trưởng sẽ chậm 10 hơn. Mô hình này có thể có giá trị nhất định đối với những nền kinh tế phát triển, nhưng dường như chưa thích hợp với những nền kinh tế đang phát triển, cơ chế này đòi hỏi sự ủng hộ của dân chúng và cơ quan quyền lực chính trị phân phối lại thu nhập thông qua việc đánh thuế cao vào đầu tư và từ đó làm giảm thu nhập trên vốn đầu tư. Rất khó tìm kiếm bằng chứng về vấn đề này ở các nước đang phát triển, một số nền kinh tế Đông Á thực hiện phân phối lại thông qua chi tiêu công hay cải cách ruộng đất chứ không dựa vào các quyết định chính trị liên quan đến thuế (Morrissey và Nelson, 1998) [135]. Lý thuyết xung đột xã hội Mô hình này nhấn mạnh sự phân phối không bình đẳng các nguồn lực chính là nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng chính trị và xung đột xã hội, đây được xem là lý thuyết kinh tế chính trị thích hợp với các nền kinh tế đang phát triển.
Theo mô hình bất ổn về chính trị xã hội, bất bình đẳng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự bất ổn chính trị xã hội và có tác động tiêu cực đến tăng trưởng do lợi nhuận đầu tư thấp hơn mức mong đợi. Trong xã hội mà người nghèo đói chiếm tỷ lệ tương đối cao, cũng như các hoạt động chống phá xã hội và tội phạm gia tăng, sẽ không khuyến khích việc tích lũy khi quyền tài sản không đảm bảo. Alesina và Perotti (1996) cho rằng bất bình đẳng lớn sẽ dẫn đến những bất ổn về chính trị và do đó mức đầu tư không tối ưu [94]. Benhabib và Rustichini (1996) nhận thấy các nước nghèo có mức đầu tư thấp hơn các nước giàu, các tác giả cung cấp mô hình lý thuyết trò chơi xung đột giữa các nhóm xã hội trong phân phối thu nhập, kết quả cho thấy sự giàu có thấp hơn có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế thấp hơn và việc cân nhắc phân phối lại thu nhập có thể gây suy yếu các động lực tích lũy [101].
Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo Chatterjee (1991), Tsiddon (1992) [109] [146] đề xuất dòng tư tưởng tín dụng đặt nền móng dựa trên thực tế là đầu tư không đều và việc tiếp cận nguồn tín dụng phụ thuộc vào sự tồn tại thế chấp. Từ đó, có một sự ràng buộc tín dụng phát sinh từ phân phối tài sản ban đầu không bình đẳng, điều này gây cản trở cho tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu này khẳng định bất bình đẳng trong việc nắm giữ đất đai 11 biểu hiện sự ràng buộc đối với tăng trưởng trong ngành nông nghiệp (ngành sản xuất chính ở các nước nghèo). Điều này nhất quán với những lập luận nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện các cải cách địa điền nhằm thúc đẩy tăng trưởng.
Galor và Zeire (1993), Chiu (1998) [116] [110] đưa ra lập luận cho rằng ở những nước mà các chủ thể không được tiếp cận tự do nguồn vốn vay, khi đó bất bình đẳng thu nhập cao hàm ý rằng một bộ phận lớn dân số không có vốn đầu tư vào nhân lực. Nếu tăng trưởng dựa vào đầu tư vào nguồn nhân lực thì tăng trưởng sẽ thấp. Người nghèo có khuynh hướng đối mặt với những ràng buộc tín dụng khó khăn, họ khó có thể thoát nghèo khi mà phần lớn dân số ở dưới ngưỡng chuẩn giáo dục. Cần có những chính sách can thiệp để giảm nghèo.