Luận văn thạc sĩ vnu ued mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc hành vi của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hà nội luận văn ths tâm lý học 603104

Luận văn thạc sĩ phân tích vnu ued mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc hành vi của học sinh trung học phổ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Tâm Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

97
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Giả thuyết nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Giới hạn nghiên cứu

1.8. Đóng góp mới của luận văn

1.9. Cấu trúc của luận văn

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên

2.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu về khả năng tự phục hồi

2.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên

2.5. Một số khái niệm công cụ

2.5.1. Khả năng tự phục hồi

2.5.2. Vấn đề cảm xúc, hành vi

2.5.3. Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu. Học sinh trung học phổ thông

2.6. Tiểu kết chương 1

3. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu

3.2. Mẫu nghiên cứu

3.3. Các phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

3.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

3.3.3. Phương pháp thống kê toán học

3.4. Quy trình thu thập dữ liệu

3.5. Tiến trình nghiên cứu

3.6. Đạo đức nghiên cứu

3.7. Tiểu kết chương 2

4. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng khả năng tự phục hồi của học sinh THPT

4.2. Sự khác biệt của các nhóm nhân khẩu học về KNTPH của học sinh THPT

4.3. Thực trạng vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT

4.4. Sự khác biệt của các nhóm nhân khẩu học về vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT

4.5. Thực trạng các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của học sinh THPT

4.6. Sự khác biệt ở các nhóm nhân khẩu học về các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của học sinh THPT

4.7. Mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT

4.8. Mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi nói chung và các vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT

4.9. Mối quan hệ hệ giữa các yếu tố trong khả năng tự phục hồi với vấn đề CXHV của học sinh THPT

4.10. Mối liên hệ giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT

4.11. Mối liên hệ giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu và khả năng tự phục hồi của học sinh THPT

4.12. Dự báo vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT từ các biến độc lập

4.13. Tiểu kết chương 3

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Liên Hệ Giữa Khả Năng Tự Phục Hồi và Cảm Xúc Hành Vi

Mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồicảm xúc hành vi của học sinh THPT tại Hà Nội là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu tâm lý học. Khả năng tự phục hồi được hiểu là khả năng của cá nhân để vượt qua khó khăn và trở lại trạng thái bình thường sau những trải nghiệm tiêu cực. Trong khi đó, cảm xúc hành vi liên quan đến các vấn đề tâm lý mà học sinh có thể gặp phải trong quá trình phát triển. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối liên hệ giữa hai yếu tố này, đặc biệt trong bối cảnh học sinh THPT tại Hà Nội.

1.1. Khái Niệm Khả Năng Tự Phục Hồi và Cảm Xúc Hành Vi

Khả năng tự phục hồi là một khái niệm quan trọng trong tâm lý học, đề cập đến khả năng của cá nhân để thích nghi và phục hồi sau những trải nghiệm khó khăn. Cảm xúc hành vi, ngược lại, liên quan đến các vấn đề như lo âu, trầm cảm và hành vi chống đối. Việc hiểu rõ hai khái niệm này là cần thiết để phân tích mối liên hệ giữa chúng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Này

Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồicảm xúc hành vi mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà giáo dục và chuyên gia tâm lý trong việc phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả cho học sinh.

II. Vấn Đề và Thách Thức Liên Quan Đến Cảm Xúc Hành Vi Của Học Sinh THPT

Học sinh THPT thường phải đối mặt với nhiều áp lực từ học tập, gia đình và xã hội. Những áp lực này có thể dẫn đến các vấn đề cảm xúc hành vi nghiêm trọng. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ học sinh gặp phải các vấn đề như lo âu và trầm cảm đang gia tăng. Điều này đặt ra thách thức lớn cho cả gia đình và nhà trường trong việc hỗ trợ học sinh.

2.1. Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Ra Vấn Đề Cảm Xúc Hành Vi

Các yếu tố nguy cơ như áp lực học tập, môi trường gia đình không ổn định và các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu có thể làm tăng nguy cơ phát triển các vấn đề cảm xúc hành vi ở học sinh. Việc nhận diện và hiểu rõ các yếu tố này là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời.

2.2. Hệ Lụy Của Vấn Đề Cảm Xúc Hành Vi

Vấn đề cảm xúc hành vi không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh mà còn có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng trong học tập và cuộc sống xã hội. Học sinh có thể gặp khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ với bạn bè và gia đình, cũng như trong việc đạt được thành tích học tập.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mối Liên Hệ Giữa Khả Năng Tự Phục Hồi và Cảm Xúc Hành Vi

Để nghiên cứu mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồicảm xúc hành vi, một số phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các công cụ như bảng hỏi và thang đo tâm lý được sử dụng để thu thập dữ liệu từ học sinh. Phân tích thống kê cũng được thực hiện để xác định mối quan hệ giữa các biến.

3.1. Công Cụ Nghiên Cứu Sử Dụng

Nghiên cứu sử dụng các công cụ như thang đo khả năng tự phục hồi (READ) và bảng tự báo cáo của thiếu niên (YSR) để đánh giá tình trạng cảm xúc hành vi của học sinh. Những công cụ này đã được chứng minh là hiệu quả trong việc đo lường các vấn đề tâm lý.

3.2. Quy Trình Thu Thập Dữ Liệu

Quy trình thu thập dữ liệu bao gồm việc phát bảng hỏi cho học sinh tại các trường THPT ở Hà Nội. Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồicảm xúc hành vi.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Mối Liên Hệ Giữa Khả Năng Tự Phục Hồi và Cảm Xúc Hành Vi

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ nghịch giữa khả năng tự phục hồi và các vấn đề cảm xúc hành vi. Học sinh có khả năng tự phục hồi cao thường có xu hướng gặp ít vấn đề hơn về cảm xúc và hành vi. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển khả năng tự phục hồi trong việc hỗ trợ học sinh.

4.1. Phân Tích Dữ Liệu Nghiên Cứu

Phân tích dữ liệu cho thấy rằng học sinh có khả năng tự phục hồi cao có xu hướng ít gặp phải các vấn đề như lo âu và trầm cảm. Điều này cho thấy rằng việc phát triển khả năng tự phục hồi có thể là một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu các vấn đề cảm xúc hành vi.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc xây dựng các chương trình can thiệp nhằm phát triển khả năng tự phục hồi cho học sinh. Các chương trình này có thể bao gồm các hoạt động giáo dục, tư vấn và hỗ trợ tâm lý.

V. Kết Luận và Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ quan trọng giữa khả năng tự phục hồicảm xúc hành vi của học sinh THPT tại Hà Nội. Việc phát triển khả năng tự phục hồi không chỉ giúp học sinh vượt qua khó khăn mà còn giảm thiểu các vấn đề tâm lý. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả.

5.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khả năng tự phục hồi có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc hành vi của học sinh. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển khả năng này trong môi trường học đường.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Các nghiên cứu tiếp theo nên xem xét các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến mối liên hệ này, chẳng hạn như môi trường gia đình, sự hỗ trợ xã hội và các yếu tố văn hóa. Điều này sẽ giúp xây dựng một bức tranh toàn diện hơn về vấn đề.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc hành vi của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hà nội luận văn ths tâm lý học 603104

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.

Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên, một trong những hướng nghiên cứu chính là về thực trạng và xác định các yếu tố nguy cơ. Các nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu tỷ lệ vấn đề CXHV nói chung trên đối tượng vị thành niên. Ở Đức, Barkmann và Markwort (2004) đã tổng quan một cách hệ thống 29 nghiên cứu và kết luận tỷ lệ các rối loạn cảm xúc, hành vi ở trẻ em và vị thành niên Đức là 17.

Trên đối tượng vị thành niên Mỹ gốc Hàn, nghiên cứu của Kim (2016) báo cáo tỷ lệ vị thành niên gặp vấn đề CXHV ở mức lâm sàng là 18%, phần lớn vấn đề thuộc nhóm hướng nội như trầm cảm, lo âu. Nữ giới có mức độ trầm cảm, lo âu, phàn nàn cơ thể nói riêng và vấn đề hướng nội nói chung cao hơn so với nam giới. Nam giới và vị thành niên lớn tuổi báo cáo mức độ hành vi phá vỡ quy tắc cao hơn [50]. Tác giả Pathak (2011) đã nghiên cứu với 1150 học sinh Ấn Độ từ 12 đến 18 tuổi, kết quả cho thấy, tỉ lệ vấn đề CXHV do bằng Bảng thiếu niên tự báo cáo (YSR) là 30%, nữ nhiều hơn nam.

Các triệu chứng hướng nội là vấn đề thường gặp nhất (28. Tại Trung Quốc, Wang và cộng sự (2014) đã khảo sát 5520 vị thành niên Trung Quốc tuổi 11- 18 từ 30 trường công với bảng hỏi Điểm mạnh và khó khăn (SDQ). Số liệu thu chỉ ra rằng có 10.7% vị thành niên có điểm số VĐCXHV trên mức ranh giới [77]. Thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên từ các nền văn hóa khác nhau cũng được quan tâm bởi nhiều nghiên cứu.

Nghiên cứu của Weisz và cộng sự (1993) cho thấy trẻ em Mỹ da trắng có tỷ lệ cao các vấn đề hướng ngoại (như tranh cãi, không nghe lời, hung bạo với người khác) còn trẻ Kenya có tỉ lệ cao các vấn đề hướng nội (như sợ hãi, cảm giác tội lỗi, vấn đề cơ thể). Các tác giả cũng gợi ý rằng sự khác biệt này có thể liên quan đến tính vâng lời và tuân thủ được nhấn mạnh ở văn hóa Kenya, trong khi ở văn hóa Mỹ nhấn mạnh đến tính độc lập [79]. Ngoài ra, sự nhạy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cảm của phụ huynh và điều kiện sống ở Thế giới thứ ba cũng là những giả thuyết được các tác giả đặt ra. Không chỉ vậy, Weisz còn thực hiện nghiên cứu để tìm hiểu vấn đề CXHV ở trẻ em Mỹ và Thái Lan.

Trẻ em Thái Lan, với nền văn hóa chịu ảnh hưởng từ Phật giáo khuyến khích tính tự chủ, khả năng kiểm soát cảm xúc và không khuyến khích các hành vi gây hấn, đã báo cáo nhiều vấn đề hướng nội hơn (như xấu hổ, sợ hãi) so với trẻ em Mỹ [80]. Tương tự, Crijnen (1993) và cộng sự đã so sánh vấn đề CXHV ở trẻ em và vị thành niên từ 12 nền văn hóa bao gồm Úc, Bỉ, Trung Quốc, Đức, Hy Lạp, Israel, Jamaica, Hà Lan, Puerto Rico, Thụy Điển, Thái Lan và Hoa Kỳ. Số liệu thu được chỉ ra rằng có sự khác biệt mức độ trung bình giữa các nền văn hóa khác nhau ở các vấn đề thu mình và vấn đề xã hội; sự khác biệt nhỏ ở các vấn đề phàn nàn cơ thể, lo âu/trầm cảm, vấn đề suy nghĩ, vấn đề chú ý, hành vi phá vỡ luật và hành vi hung tính. Điểm số vấn đề CXHV của trẻ Puerto Rico cao nhất, Thụy Điển thấp nhất.

Đồng thời, có sự nhất quán giữa các nền văn hóa về việc nữ có điểm số cao hơn nam ở các vấn đề phàn nàn cơ thể, lo âu/trầm cảm nhưng điểm số thấp hơn nam ở các vấn đề chú ý, hành vi hung tính [29]. Không chỉ nghiên cứu ở nhóm đối tượng vị thành niên trong dân số chung, nhiều tác giả còn tìm hiểu thực trạng vấn đề CXHV ở các nhóm đối tượng đặc biệt. Stevenson (2015), đã thực hiện nghiên cứu để ước tính mức độ vấn đề CXHV của trẻ khiếm thính so với các trẻ bình thường. Trẻ khiếm thính có điểm số vấn đề CXHV đo bằng thang SDQ cao hơn khoảng 1/4 đến 1/3 độ lệch chuẩn so với trẻ bình thường [74].

Trên nhóm đối tượng vị thành niên hút thuốc lá, thực trạng vấn đề CXHV cũng được Muthupalaniappen (2012) ở Malaysia nghiên cứu. Nhìn chung, điểm trung bình vấn đề CXHV ở trẻ hút thuốc lá cao hơn trẻ không hút thuốc lá ở tất cả các lĩnh vực vấn đề CXHV theo thang đo YSR. Thiếu niên hút thuốc lá có nhiều vấn đề hành vi phá vỡ quy tắc, hành vi hung tính và phàn nàn cơ thể hơn so với các em khác [62]. Bên cạnh đó, Dekker (2002) đã phát hiện ra rằng trẻ em khuyết tật trí tuệ có điểm trung bình vấn đề CXHV cao hơn so với các em bình thường, cụ thể có gần 50% trẻ khuyết tật trí tuệ có tổng điểm vấn đề CXHV đo bằng YSR ở mức lệch chuẩn, còn ở các em bình thường tỉ lệ này là 18% [32].

Ngoài những nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV nói chung, vẫn có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào thực trạng của các loại vấn đề CXHV cụ thể. Chẳng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hạn, về thực trạng rối loạn trầm cảm: Wang (2016) nghiên cứu thực trạng trầm cảm của vị thành niên Trung Quốc, cho thấy tỉ lệ trẻ có nguy cơ trầm cảm là 23. Nghiên cứu của Saluja (2004) trên nhóm vị thành niên Mỹ báo cáo 18% vị thành niên có triệu chứng trầm cảm, ở nữ cao hơn ở nam [69]. Về biểu hiện của rối loạn lo âu, Beesdo và cộng sự (2009) đã tổng hợp kết quả của các nghiên cứu khác nhau ở các nước Đài Loan, Puerto Rico, New Zealand, Mỹ, Đức, Canada, Thụy Điển, Hà Lan và đưa ra tỷ lệ rối loạn lo âu ở trẻ em và vị thành niên như sau: tỉ lệ ám sợ đặc hiệu đo tại thời điểm dao động từ 0.6%; ám sợ xã hội là 0.

Các tác giả đã giải thích tỷ lệ rối loạn lo âu dao động nhiều là do khác biệt trong các nhóm tuổi, các công cụ nghiên cứu khác nhau, nguồn thông tin, phương pháp tổng hợp dữ liệu và các hệ thống chẩn đoán được sử dụng… Tương tự, các nghiên cứu về thực trạng rối loạn hành vi cũng rất đa dạng: Nghiên cứu của tác giả Murray (2013) tìm hiểu tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em và vị thành niên Brazil với kết quả cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề hành vi trong bảng hỏi sàng lọc là 20.8%, tỷ lệ trung bình rối loạn cư xử/rối loạn khiêu khích chống đối là 4. López-Villalobos (2014) ở Tây Ban Nha đã nghiên cứu và cho biết biết tỷ lệ rối loạn khiêu khích chống đối của trẻ là 5.6%; xét theo giới tính: nam là 6.8% và nữ là 4. Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu thực trạng vấn đề CXHV nói chung cũng như các loại VĐCXHV cụ thể ở vị thành niên: Về các loại vấn đề CXHV cụ thể: Lê Thị Kim Dung (2007) đã nghiên cứu 2549 học sinh trung học cơ sở tuổi từ 11-15 ở miền Bắc, cho thấy tỷ lệ một số vấn đề cảm xúc, hành vi cụ thể là: lo âu (12.2%)…[1] Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Hằng Phương (2009) đã điều tra về thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Quảng Bình, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu ở học sinh là 21. Về rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên, Cao Vũ Hùng (2010) đã tiến hành nghiên cứu trên nhóm trẻ điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Trong số vị thành niên bị trầm cảm, tuổi 13-16 chiếm tỷ lệ cao (63.75%), tuổi trung bình là 14.74), nữ nhiều hơn nam (1. Bên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cạnh đó, các rối loạn khác ở trẻ vị thành niên bị trầm cảm nhiều nhất là rối loạn lo âu (63.75%), rối loạn hành vi (45%). [4] Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề hành vi, cảm xúc nói chung của vị thành niên có thể kể đến các nghiên cứu sau: Năm 2007, Ngô Thanh Hồi khảo sát 1203 học sinh từ 10-16 tuổi, cho thấy tỷ lệ học sinh mắc vấn đề CXHV nói chung là 19.46%; tỷ lệ mắc vấn đề cảm xúc là 11.48%, vấn đề cư xử là 9.23%, vấn đề tăng động là 14.10%, vấn đề nhóm bạn là 9.32% và vấn đề tiền xã hội là 7. Năm 2013, nhóm tác giả Đặng Hoàng Minh, Barh Weiss, Nguyễn Cao Minh đã điều tra về thực trạng sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam trên nhóm mẫu đại diện ở 1320 hộ gia đình có con từ 6-16 tuổi từ 10 tỉnh thành đại diện cho toàn quốc.

Tỷ lệ các trường hợp có vấn đề CXHV ở trẻ 12-16 tuổi theo thang đo SDQ do cha mẹ báo cáo (gồm các tiểu thang xã hội tích cực, vấn đề hành vi, tăng động, vấn đề tình cảm, vấn đề bạn bè) là 13.2%; còn tỉ lệ theo thang đo YSR do trẻ tự báo cáo là 12. Tỉ lệ vị thành niên có vấn đề về hướng nội cao hơn tỉ lệ vị vị thành niên có vấn đề hướng ngoại. Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên Sự phát triển tâm lý của vị thành niên chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó bao gồm cả những yếu tố nguy cơ. Yếu tố nguy cơ là những yếu tố tác động tiêu cực, làm tăng khả năng xuất hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần [5].

Các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên rất đa dạng và đã được xác định trong nhiều nghiên cứu. Một số nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu các yếu tố nguy cơ đối với những vấn đề CXHV cụ thể của vị thành niên. Về rối loạn trầm cảm, Wang (2016) nghiên cứu và chỉ ra những yếu tố nguy cơ gồm: có bố mẹ đơn thân, không được cả bố và mẹ chăm sóc, sống trong gia đình thu nhập thấp, các áp lực về sức khỏe thể chất, mối quan hệ liên cá nhân…) [78].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ