Chương 1. Cơ sở lý luận Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên, một trong những hướng nghiên cứu chính là về thực trạng và xác định các yếu tố nguy cơ. Các nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu tỷ lệ vấn đề CXHV nói chung trên đối tượng vị thành niên. Ở Đức, Barkmann và Markwort (2004) đã tổng quan một cách hệ thống 29 nghiên cứu và kết luận tỷ lệ các rối loạn cảm xúc, hành vi ở trẻ em và vị thành niên Đức là 17.
Trên đối tượng vị thành niên Mỹ gốc Hàn, nghiên cứu của Kim (2016) báo cáo tỷ lệ vị thành niên gặp vấn đề CXHV ở mức lâm sàng là 18%, phần lớn vấn đề thuộc nhóm hướng nội như trầm cảm, lo âu. Nữ giới có mức độ trầm cảm, lo âu, phàn nàn cơ thể nói riêng và vấn đề hướng nội nói chung cao hơn so với nam giới. Nam giới và vị thành niên lớn tuổi báo cáo mức độ hành vi phá vỡ quy tắc cao hơn [50]. Tác giả Pathak (2011) đã nghiên cứu với 1150 học sinh Ấn Độ từ 12 đến 18 tuổi, kết quả cho thấy, tỉ lệ vấn đề CXHV do bằng Bảng thiếu niên tự báo cáo (YSR) là 30%, nữ nhiều hơn nam.
Các triệu chứng hướng nội là vấn đề thường gặp nhất (28. Tại Trung Quốc, Wang và cộng sự (2014) đã khảo sát 5520 vị thành niên Trung Quốc tuổi 11- 18 từ 30 trường công với bảng hỏi Điểm mạnh và khó khăn (SDQ). Số liệu thu chỉ ra rằng có 10.7% vị thành niên có điểm số VĐCXHV trên mức ranh giới [77]. Thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên từ các nền văn hóa khác nhau cũng được quan tâm bởi nhiều nghiên cứu.
Nghiên cứu của Weisz và cộng sự (1993) cho thấy trẻ em Mỹ da trắng có tỷ lệ cao các vấn đề hướng ngoại (như tranh cãi, không nghe lời, hung bạo với người khác) còn trẻ Kenya có tỉ lệ cao các vấn đề hướng nội (như sợ hãi, cảm giác tội lỗi, vấn đề cơ thể). Các tác giả cũng gợi ý rằng sự khác biệt này có thể liên quan đến tính vâng lời và tuân thủ được nhấn mạnh ở văn hóa Kenya, trong khi ở văn hóa Mỹ nhấn mạnh đến tính độc lập [79]. Ngoài ra, sự nhạy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cảm của phụ huynh và điều kiện sống ở Thế giới thứ ba cũng là những giả thuyết được các tác giả đặt ra. Không chỉ vậy, Weisz còn thực hiện nghiên cứu để tìm hiểu vấn đề CXHV ở trẻ em Mỹ và Thái Lan.
Trẻ em Thái Lan, với nền văn hóa chịu ảnh hưởng từ Phật giáo khuyến khích tính tự chủ, khả năng kiểm soát cảm xúc và không khuyến khích các hành vi gây hấn, đã báo cáo nhiều vấn đề hướng nội hơn (như xấu hổ, sợ hãi) so với trẻ em Mỹ [80]. Tương tự, Crijnen (1993) và cộng sự đã so sánh vấn đề CXHV ở trẻ em và vị thành niên từ 12 nền văn hóa bao gồm Úc, Bỉ, Trung Quốc, Đức, Hy Lạp, Israel, Jamaica, Hà Lan, Puerto Rico, Thụy Điển, Thái Lan và Hoa Kỳ. Số liệu thu được chỉ ra rằng có sự khác biệt mức độ trung bình giữa các nền văn hóa khác nhau ở các vấn đề thu mình và vấn đề xã hội; sự khác biệt nhỏ ở các vấn đề phàn nàn cơ thể, lo âu/trầm cảm, vấn đề suy nghĩ, vấn đề chú ý, hành vi phá vỡ luật và hành vi hung tính. Điểm số vấn đề CXHV của trẻ Puerto Rico cao nhất, Thụy Điển thấp nhất.
Đồng thời, có sự nhất quán giữa các nền văn hóa về việc nữ có điểm số cao hơn nam ở các vấn đề phàn nàn cơ thể, lo âu/trầm cảm nhưng điểm số thấp hơn nam ở các vấn đề chú ý, hành vi hung tính [29]. Không chỉ nghiên cứu ở nhóm đối tượng vị thành niên trong dân số chung, nhiều tác giả còn tìm hiểu thực trạng vấn đề CXHV ở các nhóm đối tượng đặc biệt. Stevenson (2015), đã thực hiện nghiên cứu để ước tính mức độ vấn đề CXHV của trẻ khiếm thính so với các trẻ bình thường. Trẻ khiếm thính có điểm số vấn đề CXHV đo bằng thang SDQ cao hơn khoảng 1/4 đến 1/3 độ lệch chuẩn so với trẻ bình thường [74].
Trên nhóm đối tượng vị thành niên hút thuốc lá, thực trạng vấn đề CXHV cũng được Muthupalaniappen (2012) ở Malaysia nghiên cứu. Nhìn chung, điểm trung bình vấn đề CXHV ở trẻ hút thuốc lá cao hơn trẻ không hút thuốc lá ở tất cả các lĩnh vực vấn đề CXHV theo thang đo YSR. Thiếu niên hút thuốc lá có nhiều vấn đề hành vi phá vỡ quy tắc, hành vi hung tính và phàn nàn cơ thể hơn so với các em khác [62]. Bên cạnh đó, Dekker (2002) đã phát hiện ra rằng trẻ em khuyết tật trí tuệ có điểm trung bình vấn đề CXHV cao hơn so với các em bình thường, cụ thể có gần 50% trẻ khuyết tật trí tuệ có tổng điểm vấn đề CXHV đo bằng YSR ở mức lệch chuẩn, còn ở các em bình thường tỉ lệ này là 18% [32].
Ngoài những nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV nói chung, vẫn có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào thực trạng của các loại vấn đề CXHV cụ thể. Chẳng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hạn, về thực trạng rối loạn trầm cảm: Wang (2016) nghiên cứu thực trạng trầm cảm của vị thành niên Trung Quốc, cho thấy tỉ lệ trẻ có nguy cơ trầm cảm là 23. Nghiên cứu của Saluja (2004) trên nhóm vị thành niên Mỹ báo cáo 18% vị thành niên có triệu chứng trầm cảm, ở nữ cao hơn ở nam [69]. Về biểu hiện của rối loạn lo âu, Beesdo và cộng sự (2009) đã tổng hợp kết quả của các nghiên cứu khác nhau ở các nước Đài Loan, Puerto Rico, New Zealand, Mỹ, Đức, Canada, Thụy Điển, Hà Lan và đưa ra tỷ lệ rối loạn lo âu ở trẻ em và vị thành niên như sau: tỉ lệ ám sợ đặc hiệu đo tại thời điểm dao động từ 0.6%; ám sợ xã hội là 0.
Các tác giả đã giải thích tỷ lệ rối loạn lo âu dao động nhiều là do khác biệt trong các nhóm tuổi, các công cụ nghiên cứu khác nhau, nguồn thông tin, phương pháp tổng hợp dữ liệu và các hệ thống chẩn đoán được sử dụng… Tương tự, các nghiên cứu về thực trạng rối loạn hành vi cũng rất đa dạng: Nghiên cứu của tác giả Murray (2013) tìm hiểu tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em và vị thành niên Brazil với kết quả cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề hành vi trong bảng hỏi sàng lọc là 20.8%, tỷ lệ trung bình rối loạn cư xử/rối loạn khiêu khích chống đối là 4. López-Villalobos (2014) ở Tây Ban Nha đã nghiên cứu và cho biết biết tỷ lệ rối loạn khiêu khích chống đối của trẻ là 5.6%; xét theo giới tính: nam là 6.8% và nữ là 4. Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu thực trạng vấn đề CXHV nói chung cũng như các loại VĐCXHV cụ thể ở vị thành niên: Về các loại vấn đề CXHV cụ thể: Lê Thị Kim Dung (2007) đã nghiên cứu 2549 học sinh trung học cơ sở tuổi từ 11-15 ở miền Bắc, cho thấy tỷ lệ một số vấn đề cảm xúc, hành vi cụ thể là: lo âu (12.2%)…[1] Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Hằng Phương (2009) đã điều tra về thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Quảng Bình, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu ở học sinh là 21. Về rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên, Cao Vũ Hùng (2010) đã tiến hành nghiên cứu trên nhóm trẻ điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Trong số vị thành niên bị trầm cảm, tuổi 13-16 chiếm tỷ lệ cao (63.75%), tuổi trung bình là 14.74), nữ nhiều hơn nam (1. Bên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cạnh đó, các rối loạn khác ở trẻ vị thành niên bị trầm cảm nhiều nhất là rối loạn lo âu (63.75%), rối loạn hành vi (45%). [4] Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề hành vi, cảm xúc nói chung của vị thành niên có thể kể đến các nghiên cứu sau: Năm 2007, Ngô Thanh Hồi khảo sát 1203 học sinh từ 10-16 tuổi, cho thấy tỷ lệ học sinh mắc vấn đề CXHV nói chung là 19.46%; tỷ lệ mắc vấn đề cảm xúc là 11.48%, vấn đề cư xử là 9.23%, vấn đề tăng động là 14.10%, vấn đề nhóm bạn là 9.32% và vấn đề tiền xã hội là 7. Năm 2013, nhóm tác giả Đặng Hoàng Minh, Barh Weiss, Nguyễn Cao Minh đã điều tra về thực trạng sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam trên nhóm mẫu đại diện ở 1320 hộ gia đình có con từ 6-16 tuổi từ 10 tỉnh thành đại diện cho toàn quốc.
Tỷ lệ các trường hợp có vấn đề CXHV ở trẻ 12-16 tuổi theo thang đo SDQ do cha mẹ báo cáo (gồm các tiểu thang xã hội tích cực, vấn đề hành vi, tăng động, vấn đề tình cảm, vấn đề bạn bè) là 13.2%; còn tỉ lệ theo thang đo YSR do trẻ tự báo cáo là 12. Tỉ lệ vị thành niên có vấn đề về hướng nội cao hơn tỉ lệ vị vị thành niên có vấn đề hướng ngoại. Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên Sự phát triển tâm lý của vị thành niên chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó bao gồm cả những yếu tố nguy cơ. Yếu tố nguy cơ là những yếu tố tác động tiêu cực, làm tăng khả năng xuất hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần [5].
Các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên rất đa dạng và đã được xác định trong nhiều nghiên cứu. Một số nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu các yếu tố nguy cơ đối với những vấn đề CXHV cụ thể của vị thành niên. Về rối loạn trầm cảm, Wang (2016) nghiên cứu và chỉ ra những yếu tố nguy cơ gồm: có bố mẹ đơn thân, không được cả bố và mẹ chăm sóc, sống trong gia đình thu nhập thấp, các áp lực về sức khỏe thể chất, mối quan hệ liên cá nhân…) [78].