Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm chậu cây nhựa sang thị trường châu Âu của Công ty TNHH Nhựa Quốc tế Anh Tú. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm chậu cây nhựa sang thị trường châu Âu của Công ty TNHH Nhựa Quốc tế Anh Tú.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP 2. Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa 2. Khái niệm hoạt động xuất khẩu Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, các hoạt động thương mại quốc tế cũng phát triển ngày càng mạnh mẽ. Cùng với sự gia tăng của các công ty xuyên quốc gia thì sự cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn.
Điều này buộc các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phải hội nhập vào nền kinh tế ngoại thương, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa để cạnh tranh với các đối thủ từ nhiều quốc gia khác nhau. Theo Paul A Samuelson trong Kinh tế học: “Xuất khẩu là hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước và bán sang nước khác. Nhận định này đã nêu được những đặc điểm cơ bản của xuất khẩu bao gồm đối tượng của xuất khẩu là hàng hóa và dịch vụ và phạm vi của hoạt động xuất khẩu không giới hạn về không gian. Tuy nhiên, nhận định này chưa bao quát hết được về các hình thức xuất khẩu ví dụ như tạm nhập tái xuất hay xuất khẩu tại chỗ.
Theo Feenstra và Taylor trong Giáo trình Thương mại quốc tế 2010: “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác. Theo Luật Thương mại 2005 của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được gọi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Quan điểm về xuất khẩu của Feenstra và Taylor và Quy định về xuất khẩu trong Luật Thương mại 2005 của Việt Nam đã khắc phục được hạn chế trong nhận định về xuất khẩu của Paul A Samuelson.
Từ những nhận định trên, ta có thể thấy bản chất của xuất khẩu hàng hóa là hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt trên lãnh thổ quốc gia. Xuất khẩu hàng hóa dựa trên cơ sở của phân công lao động, cho phép các quốc gia thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, tận dụng và phát huy tối đa lợi thế của mình. Do đó, hoạt động sản xuất và thương mại diễn ra hiệu quả hơn. Cùng với sự 7 phát triển mạnh mẽ của công nghệ, khoa học, kỹ thuật, hoạt động xuất khẩu giữa các quốc gia ngày càng diễn ra sâu rộng hơn với kim ngạch ngày càng tăng.
Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế thế giới cũng như thúc đẩy sản xuất của quốc gia. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 2. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu giúp gia tăng doanh thu và lợi nhuận, đồng thời đa dạng hóa và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp. Thông qua xuất khẩu hàng hóa, doanh nghiệp có cơ hội tham gia và tiếp cận nền thị trường thế giới, mở rộng quy mô thị trường.
Từ đó giúp thúc đẩy khả năng sản xuất, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh. Thứ hai, hoạt động xuất khẩu giúp thúc đẩy, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp. Do phải chịu sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, để đứng vững được, các doanh nghiệp phải đổi mới trang thiết bị, đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ nhân viên, công nhân viên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm, hạ giá thành, đồng thời hoàn thiện quy trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, áp dụng hiểu quả những tiến bộ về công nghệ, khoa học kỹ thuật trong quản lý và kinh doanh.
Đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Thứ ba, hoạt động xuất khẩu hàng hóa giúp xây dựng và nâng cao uy tín và vị thế doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giúp nâng cao vị thế doanh nghiệp và uy tín thương hiệu toàn cầu. Đối với quốc gia 8 Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu giúp tận dụng lợi thế so sánh về chuyên môn hóa sản xuất của quốc gia.
Theo quan điểm của David Ricardo: “Một quốc gia có hiệu quả sản xuất thấp hơn trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm vẫn có thể tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi ngoại thương, thông qua chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế so sánh”. Hoạt động xuất khẩu sẽ thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa sản xuất của quốc gia dựa trên hàm lượng nhân tố đầu vào mà quốc gia đó có lợi thế. Từ đó, quốc gia sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và đạt được lợi thế so sánh về những hàng hóa này. Do đó, hàng hóa của quốc gia sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh chi phí thấp.
Thứ hai, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia trên trường quốc tế, thúc đẩy quan hệ ngoại giao, giao lưu và hợp tác kinh tế với các nước. Hoạt động xuất khẩu giúp mở cửa nền kinh tế để các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang và kém phát triển tận dụng được các nguồn vốn đầu tư, viện trợ nước ngoài, … góp phần tăng trưởng kinh tế, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia. Xuất khẩu tạo tiền đề ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các quốc gia, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Với xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa hiện nay, xuất khẩu chính là cơ hội để quốc gia gia nhập vào nền kinh tế khu vực nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
Thứ ba, xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia, mở rộng thị trường, đem lại nguồn ngoại tệ và thúc đẩy nhập khẩu. Hoạt động xuất khẩu tận dụng chênh lệch tỷ giá hối đoái để đem lại nguồn thu ngoại tệ không chỉ phục vụ cho nhập khẩu hàng hóa, mà còn hỗ trợ cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật để thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất. Từ đó, giúp các doanh nghiệp quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ toàn cầu, tăng quy mô sản xuất và giúp tăng trưởng nền kinh tế quốc gia. Thứ tư, giải quyết vấn đề việc làm và cải thiện chất lượng đời sống người dân.
Hoạt động xuất khẩu giúp tạo công ăn việc làm cho người lao động, làm tăng thêm thu nhập của họ đồng thời cũng phát huy được sự sáng tạo của người lao động. Các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu thường có quy mô lớn hơn so với các doanh nghiệp chỉ hoạt động trong nước, do đó các doanh nghiệp này thường thu hút nhiều người lao động có trình độ với mức thu nhập cao hơn. Ngoài ra xuất khẩu còn tạo ra nguồn 9 thu nhập ngoại tệ để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu khác, từ đó chất lượng đời sống của người dân quốc gia cũng được cải thiện hơn. Đối với nền kinh tế thế giới Xuất khẩu góp phần quan trọng vào phát triển nền kinh tế thế giới, cải thiện cán cân thương mại, ổn định kinh tế vĩ mô và vi mô, ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương, đa phương và toàn cầu, tạo hiệu ứng lan toả thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động toàn cầu và tạo động lực đổi mới sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Ngoài ra, xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định. Các hình thức xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu trực tiếp: Xuất khẩu trực tiếp là phương thức giao dịch trong đó người bán trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người mua ở nước ngoài. Đây là hình thức xuất khẩu hàng hóa phổ biến nhất.
Với hình thức này, giao dịch giữa người bán và người mua được thực hiện một cách tiện lợi, nhanh chóng do không cần qua trung gian. Từ đó, doanh nghiệp giảm được chi phí trung gian, hiệu quả giao dịch cũng được nâng cao do được đàm phán, trao đổi trực tiếp và mối quan hệ đối tác giữa người bán và người mua cũng được mở rộng. Giao dịch qua trung gian: Giao dịch qua trung gian là phương thức giao dịch trong đó quá trình trao đổi giữa người bán và người mua (hai bên có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau) để mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ được thông qua bên thứ ba (được gọi là trung gian thương mại). Giao dịch qua trung gian có thể được tiến hành thông qua đại lý hoặc môi giới.
Khi sử dụng hình thức giao dịch qua trung gian, doanh nghiệp có thể giảm bớt rủi ro trong quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là khi doanh nghiệp thâm nhập vào một thị trường mới. Tuy nhiên, hình thức này cũng khiến doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào bên trung gian. Buôn bán đối lưu: 10 Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu.