Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam, sự phát triển kinh tế - xã hội đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn cũng đặt ra những thách thức lớn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Theo số liệu được tác giả tổng hợp, hơn 70% dân số cả nước tập trung ở khu vực nông thôn và 75% tổng lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực này đối mặt với các vấn đề nội tại như năng suất lao động thấp, phương thức canh tác lạc hậu và hiệu quả sản xuất chưa cao. Bên cạnh đó, 90% số người nghèo của cả nước sinh sống tại nông thôn; tỷ lệ thời gian lao động nhàn rỗi chiếm 28,9%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 6,9%. Tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp nông thôn không chỉ kìm hãm sự phát triển kinh tế mà còn là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đói nghèo và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định xã hội.
Tại huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội), chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm hơn so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mặc dù tỷ trọng lao động nông nghiệp có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo (đạt 67,5% tổng số lao động làm việc vào năm 2014). Tỷ trọng lao động ngành dịch vụ và công nghiệp - xây dựng năm 2014 lần lượt chiếm gần 16% và trên 17%. Quá trình đô thị hóa và việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp làm thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp trong khi quy mô dân số tiếp tục tăng, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm và lãng phí quỹ thời gian lao động (năm 2013 tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đạt 70,8%, năm 2014 đạt xấp xỉ 73%). Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu cấp thiết về quản lý và phát triển nguồn nhân lực địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:
- Nhận thức cơ sở khoa học và lý luận về việc làm cũng như các chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
- Đánh giá, phân tích thực trạng lao động, sản xuất nông nghiệp và việc thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp tại huyện Ba Vì giai đoạn 2011 – 2014.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp huyện Ba Vì giai đoạn 2015 – 2020, định hướng đến năm 2030.
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề việc làm và hệ thống chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Thời gian: Dữ liệu đánh giá thực trạng thu thập trong giai đoạn 2011 – 2014; các giải pháp và phương hướng đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2015 – 2020, định hướng đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận kinh tế học chính trị, kinh tế lao động và các công trình khoa học trong và ngoài nước:
- Lý thuyết giá trị thặng dư và tích lũy tư bản của Karl Marx: Trích xuất từ tác phẩm Tư bản (1867) và Quy luật phổ biến của tích lũy tư bản chủ nghĩa (Chương XXIII, Tập 23 C.Mác - Ăngghen toàn tập), giải thích bản chất hàng hóa sức lao động, cơ chế chuyển hóa sức lao động thành việc làm và xu hướng giảm tương đối của cầu lao động khi tích lũy tư bản bất biến tăng nhanh hơn tư bản khả biến.
- Lý thuyết việc làm của John Maynard Keynes: Trích xuất từ tác phẩm Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, phân tích mối tương quan giữa sản lượng, thu nhập, tiêu dùng, đầu tư, tiết kiệm và tình trạng thất nghiệp.
- Các nghiên cứu quốc tế: Công trình của Li Luping về Biến đổi thu nhập hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc (khẳng định vai trò của giáo dục và công nghiệp hóa đối với việc làm phi nông nghiệp) và nghiên cứu của Basu về Đạo luật quốc gia về Bảo lãnh việc làm nông thôn ở Ấn Độ (Rural Employment Guarantee Schemes).
- Các nghiên cứu trong nước: Đề tài cấp Bộ năm 2009 của Bùi Quang Dũng; Luận án Tiến sĩ của Trần Thị Bích Hạnh; công trình của Nguyễn Xuân Khoát (Lao động, việc làm và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam); bài viết của Trần Đình Hoan (Phương hướng cơ bản giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay); bài tổng quan của Nguyễn Sinh Cúc về 25 năm thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị.
- Khái niệm và quy chuẩn pháp lý: Vận dụng định nghĩa việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Điều 13 Chương 2 Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội; quy định về độ tuổi lao động tại Việt Nam (từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ); phân loại thất nghiệp (thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp chu kỳ, thất nghiệp tồn đọng).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ báo cáo thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng huyện Ba Vì năm 2014; báo cáo tổng kết giai đoạn 2011 – 2014; kết quả Tổng điều tra nông nghiệp nông thôn và thủy sản; số liệu các chương trình đào tạo và giới thiệu việc làm của Phòng Kinh tế, Trung tâm Giới thiệu việc làm huyện Ba Vì.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Thiết kế chọn mẫu điều tra phi ngẫu nhiên, phối hợp giữa điều tra phân cấp và điều tra theo tiêu thức kết hợp trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Phân nhóm số liệu thứ cấp và sơ cấp theo tiêu thức phân tổ nội dung, tính toán và xử lý các chỉ tiêu tổng hợp trên phần mềm bảng tính Excel.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích thống kê so sánh, phân tích thực chứng (positive analysis) và phân tích chuẩn tắc (normative analysis), kết hợp đánh giá định tính và định lượng để khái quát hóa bản chất hiện tượng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa, khái niệm cơ bản về lao động, người lao động nông nghiệp, nguồn nhân lực và lực lượng lao động. Tác giả phân tích các tiêu chí xác định việc làm hợp pháp theo Bộ luật Lao động và quy ước ILO, đồng thời phân định rõ 4 dạng thất nghiệp phổ biến trong nền kinh tế.
Đặc điểm việc làm nông nghiệp được luận giải qua mối liên hệ mật thiết với đối tượng cây trồng, vật nuôi (cơ thể sống), tính thời vụ cao dẫn đến hiện tượng nông nhàn xen kẽ thời kỳ căng thẳng lao động, hoạt động phân tán chủ yếu theo kinh tế hộ gia đình với công cụ sản xuất và trình độ chuyên môn còn thấp. Tác giả chỉ ra 4 nhóm nhân tố cơ bản tác động đến việc làm nông nghiệp:
- Cơ cấu và trình độ lao động: Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực tăng lên, tạo sức ép đào tạo lại đối với lao động nông nghiệp.
- Quá trình đô thị hóa: Việc thu hồi đất nông nghiệp làm giảm diện tích đất canh tác bình quân trên một lao động, trực tiếp gia tăng tình trạng thiếu việc làm.
- Nguồn vốn đầu tư: Để tạo ra một chỗ làm việc mới, chi phí đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp cần khoảng 10 – 15 triệu đồng/chỗ làm, trong khi lĩnh vực công nghiệp đòi hỏi khoảng 50 triệu đồng/chỗ làm.
- Vai trò quản lý nhà nước: Ảnh hưởng thông qua quy hoạch phát triển vùng, chính sách tín dụng ưu đãi (theo Chỉ thị 40-CT/TW), các dự án hỗ trợ đào tạo nghề theo văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Chương này cũng đúc kết 4 bài học kinh nghiệm giải quyết việc làm từ các địa phương: duy trì sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh đào tạo nghề, thu hút vốn đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quản lý hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách.
Chương 2: Thực trạng về chính sách việc làm cho lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp và tác động của nó tới việc làm trên địa bàn huyện Ba Vì giai đoạn 2011 – 2014. Huyện đã ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về lịch thời vụ, biện pháp phòng chống dịch bệnh, kỹ thuật gieo sạ và canh tác lúa sinh thái SRI (hệ thống canh tác lúa cải tiến giúp tăng năng suất và giảm chi phí đầu vào).
Tình hình sử dụng đất gieo trồng và giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Ba Vì được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
| Chỉ tiêu |
Đơn vị |
Năm 2011 |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
| Tổng diện tích gieo trồng |
Ha |
23.387,2 |
24.880,0 |
25.478,0 |
22.679,0 |
| Trong đó: Diện tích trồng lúa |
Ha |
13.165,0 |
13.395,0 |
14.182,0 |
14.000,0 |
| Diện tích gieo sạ |
Ha |
4.626,0 |
4.856,0 |
5.320,0 |
5.043,0 |
| Năng suất lúa bình quân |
Tạ/ha |
57,7 |
58,1 |
59,8 |
60,7 |
| Năng suất gieo sạ bình quân |
Tạ/ha |
65,0 |
68,0 |
63,0 |
64,0 |
| Hệ số sử dụng đất |
Lần |
2,23 |
2,30 |
— |
— |
| Giá trị sản xuất/ha canh tác |
Triệu đồng/ha |
103,0 |
105,0 |
106,0 |
120,0 |
| Thu nhập/ha canh tác |
Triệu đồng/ha |
70,0 |
73,0 |
71,0 |
76,0 |
Số liệu cho thấy tổng diện tích gieo trồng có biến động mạnh, đạt đỉnh 25.478 ha vào năm 2013 nhưng đến năm 2014 giảm 2.799 ha xuống còn 22.679 ha do chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang phát triển hạ tầng và công nghiệp. Nhờ áp dụng kỹ thuật gieo sạ và thâm canh, năng suất lúa bình quân tăng đều từ 57,7 tạ/ha (2011) lên 60,7 tạ/ha (2014); giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác tăng từ 103 triệu đồng lên 120 triệu đồng/ha; thu nhập trên 1 ha canh tác tăng từ 70 triệu đồng lên 76 triệu đồng/ha.
Về cơ cấu và chính sách việc làm, lao động nông nghiệp huyện Ba Vì năm 2014 vẫn chiếm 67,5% tổng lao động làm việc. Tốc độ tăng trưởng lao động ngành dịch vụ đạt bình quân 5,2%/năm (giai đoạn 2012 – 2014, chiếm gần 16% năm 2014); lao động công nghiệp - xây dựng tăng trên 5%/năm (chiếm trên 17% năm 2014). Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng từ 70,8% (2013) lên xấp xỉ 73% (2014). Tác giả đánh giá kết quả triển khai đào tạo nghề, hoạt động của Trung tâm Giới thiệu việc làm, chương trình tín dụng Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) và công tác xuất khẩu lao động; đồng thời chỉ rõ những hạn chế: chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, diện tích đất canh tác bị thu hẹp gây áp lực thiếu việc làm, chất lượng đào tạo nghề chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện
Chương 3 xây dựng các định hướng phát triển đến năm 2020 của huyện Ba Vì:
- Giảm tỷ lệ tăng dân số/tỷ lệ sinh tự nhiên hàng năm xuống 0,01%.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống dưới 5%.
- Nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên mức 85%.
Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp chính sách hoàn thiện:
- Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề: Gắn kết chương trình đào tạo nghề của địa phương với kế hoạch tuyển dụng của các doanh nghiệp trên địa bàn và nhu cầu thị trường.
- Chính sách tín dụng và cho vay vốn tạo việc làm: Tăng cường ủy thác ngân sách địa phương qua NHCSXH theo Chỉ thị số 40-CT/TW, củng cố chất lượng hoạt động của các Tổ Tiết kiệm và Vay vốn, tổ chức điểm giao dịch trực tiếp tại các xã.
- Phát triển sản xuất trong khu vực nông thôn: Mở rộng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, gia công mỹ nghệ, bảo quản và chế biến nông sản nhằm thu hút lao động nông nhàn tại chỗ.
- Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động: Nâng cao chất lượng tư vấn, hướng dẫn thủ tục và đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng nghề cho lao động nông nghiệp tham gia xuất khẩu.
- Nhóm giải pháp phối hợp và kiến nghị:
- Đối với cơ quan chức năng: Hoàn thiện quy hoạch đất đai, phân bổ ngân sách đào tạo và giám sát nguồn vốn chính sách.
- Đối với cơ sở kinh tế: Liên kết đào tạo và tiếp nhận lao động sau học nghề.
- Đối với người lao động: Chủ động học nghề, nâng cao trình độ văn hóa, ý thức chấp hành kỷ luật lao động và chủ động tự tạo việc làm.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu thực trạng: Khóa luận cung cấp chuỗi số liệu thực tế về sản xuất và lao động huyện Ba Vì giai đoạn 2011 – 2014, lượng hóa được xu hướng chuyển dịch đất đai (năm 2014 giảm 2.799 ha đất gieo trồng), biến động năng suất cây trồng (năng suất lúa đạt 60,7 tạ/ha năm 2014), tỷ trọng lao động nông nghiệp (67,5%) và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động (73%).
- Xác lập căn cứ định mức vốn việc làm: Làm rõ chi phí đầu tư bình quân tạo một chỗ làm việc mới giữa nông nghiệp (10 – 15 triệu đồng) và công nghiệp (khoảng 50 triệu đồng), làm cơ sở cho hoạch định chính sách phân bổ vốn tín dụng.
- Đóng góp khoa học và ứng dụng: Đề tài phân tích trực tiếp tính đặc thù của huyện Ba Vì – một huyện nông nghiệp vùng ven đang trong quá trình đô thị hóa của thủ đô Hà Nội. Khóa luận gắn lý luận việc làm của Marx, Keynes với thực tiễn quản lý nhà nước cấp huyện, đề xuất các chỉ tiêu định lượng cụ thể cho mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận dừng lại ở mốc thời gian năm 2014; phương pháp điều tra chọn mẫu sơ cấp sử dụng hình thức phi ngẫu nhiên nên tính đại diện thống kê có thể chịu ảnh hưởng cục bộ theo địa bàn khảo sát.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục cập nhật và kiểm chứng tác động của các chính sách đào tạo nghề và vốn vay tín dụng chính sách tại huyện Ba Vì trong giai đoạn 2015 – 2020 và tầm nhìn 2030, mở rộng phân tích tác động của các mô hình liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao đối với việc giải quyết việc làm tại chỗ.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Quản trị nhân lực và Nông nghiệp nông thôn khi nghiên cứu về phương pháp luận và mô hình đánh giá việc làm nông nghiệp.
- Cán bộ quản lý tại Phòng Kinh tế, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Ba Vì và các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
-
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn huyện Ba Vì giai đoạn 2013 – 2014 đạt mức nào và mục tiêu đến năm 2020 ra sao?
Theo báo cáo thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của huyện, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn năm 2013 đạt 70,8%, năm 2014 đạt xấp xỉ 73%. Mục tiêu chiến lược của huyện Ba Vì là nâng tỷ lệ này lên mức 85% vào năm 2020.
-
Cơ cấu phân bổ lao động làm việc theo ngành kinh tế của huyện Ba Vì năm 2014 được ghi nhận như thế nào?
Năm 2014, lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng 67,5% tổng số lao động làm việc; lao động ngành dịch vụ chiếm gần 16% (tăng bình quân 5,2%/năm giai đoạn 2012 – 2014); lao động ngành công nghiệp và xây dựng chiếm trên 17% (tăng trưởng trên 5%/năm).
-
Định mức vốn đầu tư để tạo một chỗ làm việc mới trong nông nghiệp và công nghiệp được tác giả nêu ra là bao nhiêu?
Trong cơ sở lý luận, tác giả chỉ ra rằng để tạo ra một chỗ làm việc mới trong ngành nông nghiệp cần lượng vốn đầu tư từ 10 đến 15 triệu đồng, trong khi lĩnh vực công nghiệp đòi hỏi khoảng 50 triệu đồng cho một chỗ làm mới.
-
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 được vận dụng vào giải pháp nào trong khóa luận?
Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư trung ương Đảng được vận dụng trong giải pháp tín dụng chính sách: Cấp ủy và chính quyền huyện Ba Vì tăng cường lãnh đạo tín dụng chính sách, ưu tiên bố trí ngân sách địa phương ủy thác sang Ngân hàng Chính sách Xã hội để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách giải quyết việc làm.
-
Biến động diện tích đất gieo trồng tại huyện Ba Vì từ năm 2011 đến 2014 diễn ra như thế nào?
Tổng diện tích gieo trồng đạt 23.387,2 ha năm 2011, tăng lên 24.880 ha năm 2012, đạt đỉnh 25.478 ha năm 2013, sau đó giảm 2.799 ha xuống còn 22.679 ha vào năm 2014 do chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ đô thị hóa và hạ tầng công nghiệp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp tại huyện Ba Vì giai đoạn 2011 – 2014. Qua việc phân tích các chỉ tiêu sản xuất, sử dụng đất và cơ cấu lao động, tác giả đã chỉ rõ những áp lực việc làm nảy sinh do quá trình đô thị hóa thu hẹp diện tích đất canh tác. Hệ thống giải pháp về đào tạo nghề gắn với nhu cầu sử dụng, mở rộng tín dụng chính sách theo Chỉ thị 40-CT/TW và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là căn cứ thực tế nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì đến năm 2020.