LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việc làm có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi người, mỗi gia đình, cũng như trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Giải quyết việc làm là vấn đề mang tính toàn cầu, là một thách thức còn khá lâu dài với toàn thể nhân loại. Đối với các nước đang phát triển như nước ta, nguồn lao động còn rất dồi dào và tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn nên vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở đó bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của quốc gia.
Trong những năm qua, chuyển dịch cơ cấu lao động của huyện Ba vì còn chậm so với cơ cấu chuyển dịch kinh tế. Lao động nông nghiệp tuy có giảm qua các năm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn, năm 2014 chiếm 67,5% tổng số lao động làm việc. Lao động dịch vụ tăng nhanh nhất trong giai đoạn từ năm 2012 – 2014 bình quân 5,2% /năm năm 2014 chiếm gần 16% tổng số lao động làm việc của huyện. Lao động công nghiệp , xây dựng tăng trên 5%/năm trong cùng giai đoạn nhưng đến nay cũng chỉ chiếm trên 17% tổng số lao động làm việc.
Thời gian lao động ở nông thôn tuy có tăng trong những năm gần đây nhưng vẫn chưa cao năm 2013 đạt 70,8%, năm 2014 đạt xấp xỉ 73%. Nông nghiệp là một thế mạnh nhưng sản xuất ở ngành này mang tính thời vụ nên 1 nhiều lao động ở ngành này vẫn còn nhiều thời gian nhàn rỗi, bên cạnh đó quá trình đô thị hóa của huyện đang ngày một phát triển, mở rộng, nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp được xây dựng do vậy một phần diện tích đất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng dẫn tới diện tích đất canh tác ngày càng giảm trong khi dân số nông thôn ngày một tăng. Điều đó cho chúng ta thấy tình trạng thiếu việc làm cho lao động nông nghiệp ngày một tăng và thời gian sử dụng của lao động chưa cao, chưa hợp lý, do đó chưa phát huy được khả năng sẵn có. Vì vậy một trong những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì đến năm 2020: Giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho người lao động ở nông thôn.
Muốn vậy phải phấn đấu đến năm 2020: giảm tỷ lệ sinh hàng năm xuống 0,01%, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 5%, nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên 85%. Chú trọng nâng cao chất lượng cho người lao động và đặc biệt là lao động nông nghiệp, đào tạo nghề cho lao động, hỗ trợ vay vốn phát triển kinh tế tạo việc làm cho người dân và hướng dẫn tư vấn xuất khẩu lao động. Để thực hiện mục tiêu trên, trước hết chúng ta cần tìm hiểu và làm rõ vấn đề về thực trạng việc làm của lao động nông nghiệp ở huyện Ba Vì trong thời gian qua, từ năm 2011 đến năm 2014 đồng thời chỉ ra những thách thức, hạn chế cũng như khả năng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp ở huyện Ba Vì trong thời gian tới. Xuất phát từ tình hình thực tế và nhằm giúp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của 2 huyện ngày càng hiệu quả, hoàn thành kế hoạch đề ra, em xin lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “ Hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì”.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan Việc làm cho người lao động là một vấn đề luôn được quan tâm. Bởi lẽ đây không chỉ là vấn đề có liên quan đến cuộc sống của người lao động, mà còn liên quan đến tất cả các quá trình phát triển xã hội. Đây là một vấn đề có liên hệ, liên kết giữa các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu. Quá trình đó diễn ra trong mỗi quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong đó có liên quan đến các lợi ích kinh tế và luật pháp.
Đây là vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Nhưng vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giải quyết việc làm cho người lao động cũng có những đặc điểm khác nhau. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về việc làm cho người lao động được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cả trong và ngoài nước quan tâm. Trong phạm vi của khóa luận xin giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến việc làm cho người lao động, trong đó có lao đông nông nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế ở huyện Ba Vì.
a, Tài liệu chuyên khảo và tham khảo nước ngoài: + Sách tham khảo: * Các Mác (1818-1883) - nhà kinh tế học và triết học người Đức có công trình 3 vĩ đại “Tư bản” được phát hành vào năm 1867. Ông đã đưa ra lý thuyết giá trị thặng dư và phân tích bản chất và những thành tố đặc biệt của hàng hoá sức lao động - một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường và cái giá trị tăng thêm mà các ông chủ tư bản có được sau khi bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh chính là do lao động không công của người công nhân làm thuê tạo ra. Song để có những giá trị thặng dư ấy, nhà tư bản phải tạo ra một chỗ làm việc cụ thể trong chuỗi kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ bằng cách đầu tư tư bản vào sản xuất, kinh doanh. Và hơn nữa, người lao động nếu không thể kết hợp sức lao động sống của mình với chỗ làm việc cụ thể do nhà tư bản tạo ra, thì bản thân họ cũng không thể chuyển sức lao động thành việc làm, và do đó cũng không thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.
Vấn đề việc làm thì ở chương XXIII, tập 23 C.Mác - Ăngghen toàn tập về “Quy luật phổ biến của tích luỹ tư bản chủ nghĩa” đã phân tích sự tăng thêm của tư bản đến vị trí của giai cấp công nhân và việc làm. Công trình này đã chỉ ra rằng: Sự gia tăng việc làm trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa không tăng cùng tỷ lệ với sự gia tăng đầu tư tư bản, mà có xu hướng giảm tương đối. Do nhà tư bản luôn tính toán làm sao tốc độ gia tăng tư bản bất biến nhanh hơn tốc độ gia tăng tư bản khả biến. Những nghiên cứu của C.Mác về hàng hoá sức lao động, về sự sản xuất ra giá trị thặng dư, về ngày lao động, sự phân công lao động, sự thay đổi trong đại lượng giá cả sức lao động và của giá trị thặng dư, sự chuyển hoá giá trị sức lao động hay giá cả sức 4 lao động thành tiền công, quá trình tích luỹ tư bản, nhất là lý luận của ông về tích luỹ tư bản… đã cung cấp những cơ sở khoa học cơ bản, trong đó có quan niệm về lao động, việc làm cho các nhà nghiên cứu về các nền kinh tế trên thế giới cũng như các vấn đề phát sinh trong xây dựng và phát triển kinh tế của các quốc gia.
* John Maynard Keynes trong cuốn Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ đã xem việc làm trong mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm. Tình trạng việc làm được xác định trong mối quan hệ giữa tác động các yếu tố thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp, tình trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập và khẳng định: khi việc làm tăng lên thì tổng thu nhập tăng lên và khi thu nhập tăng thì tiêu dùng cũng tăng lên, nhưng do tâm lý của người dân, tốc độ tăng tiêu dùng luôn thấp hơn tốc độ tăng thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng thực tế giảm tương đối so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng hoá không bán được. Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng đến sản xuất chu kỳ sau, do đó làm giảm việc làm, gia tăng thất nghiệp. + Tạp chí khoa học nước ngoài: * Li Luping trong báo cáo Biến đổi thu nhập hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc đã nghiên cứu những thay đổi trong sản xuất nông nghiệp và hệ thống sinh kế của bốn khu vực nông thôn Trung Quốc trên cơ sở hai đợt khảo sát các hộ gia đình trong giai đoạn 1999-2009.
Kết quả cho thấy, trong các yếu tố quan trọng giải thích 5 cho sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình thì giáo dục là yếu tố chính ảnh hưởng đến tăng trưởng thu nhập của các hộ gia đình. Thời gian đi học của người dân càng tăng lên thì thu nhập bình quân đầu người của họ càng tăng lên nhiều hơn. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp hơn cho các hộ gia đình ở nông thôn, đồng thời quá trình đô thị hóa lại hấp thụ một lượng lớn lao động nông thôn trong lĩnh vực dịch vụ. Basu trong Impact of Rural Employment Guarantee Schemes on Seasonal Labor Markets: Optimum Compensation and Workers' Welfare cho rằng việc ban hành Đạo luật quốc gia về Bảo lãnh việc làm nông thôn ở Ấn Độ, đây được coi như một chính sách cung cấp mạng lưới an sinh xã hội cho người nghèo nông thôn để tăng thu nhập, ổn định sản xuất nông nghiệp và làm giảm tốc độ di cư từ nông thôn ra đô thị.
Dựa trên những kết quả kiểm tra lao động và sản lượng đáp ứng thị trường để có thể thực hiện đề án “Bảo lãnh việc làm cho lao động nông thôn và xác định việc bồi thường cho người lao động phù hợp với các mục tiêu”: (i) hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp và (ii) phúc lợi tối đa hóa của người lao động. Từ đó, cung cấp khung lý thuyết cho việc đánh giá những quan sát và kết quả thực nghiệm về: bảo lãnh việc làm cho lao động nông thôn với tiền lương nông nghiệp, việc làm, đầu ra của nông nghiệp và nhấn mạnh tầm quan trọng của năng suất tương đối của người lao động trong các chương trình này với đối tác của họ khi tham gia sản xuất nông nghiệp. 6 Qua tham khảo một số công trình của các tác giả nước ngoài, ta có thể thấy, vấn đề việc làm cho lao động nông thôn, lao động nông nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố khối lượng đầu tư, khối lượng sản phẩm được tạo ra và chất lượng của nguồn nhân lực. Các nhân tố có những quan hệ luôn luôn biến động, và sự điều chỉnh của nó không dễ dàng.