Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động môi giới của công ty chứng khoán Chương 2: Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty Cổ phan Chứng khoán SSI Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty Cô phan Chứng khoán SSI Sinh viên: Vũ Quỳnh Hương 2 Lớp: Tài chính công 58 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG MOI GIỚI CUA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Công ty chứng khoán 1. Khát niệm công ty chứng khoán TTCKmuốn dat tình trang phát triển cũng như hoạt động hiệu quả bền vững và lâu đài, sự có mặt của các chủ thể tham gia kinh doanh là điều hiển nhiên. Do muốn có một kênh huy động dài han cho các loại chứng khoán, TTCK đã được hình thành.
Bởi vậy, không như các thị trường có thực hiện giao dịch đối với các loại hàng hóa thông thường như ta đã biết, hàng hóa trong TTCK chính là các loại chứng khoán. Tại sao nó lại được coi là đặc biệt so với các hàng hóa thông thường đã biết khác? Bởi ở chỗ bên mua và bên bán không thể gặp mặt trực tiếp để giao dịch, mua bán với nhau. Hàng hóa này cũng không thể được đánh giá, nhận xét xem nó thực sự là tốt hay xấu. Việc tự đứng ra giao dịch loại hàng hóa này khiến phần đông các nhà đầu tư cảm thấy rủi ro và e ngại.
Hiểu được răng cần có một bên trung gian đề giải quyết vấn đề nhức nhối này, công ty chứng khoán ra đời dé thỏa mãn nhu cầu của cả bên mua và bên bán. Các CTCK, hay nói chính xác và cụ thé hon là các nhân viên sẽ sử dụng năng lực trình độ cũng như khả năng am hiểu, nhạy bén với thị trường dé mang lại sự kết nối. Tóm lại, TTCK muốn diễn ra hiệu quả, công băng: các nhà đầu tư không còn e dè với thị trường này thì chỉ có thể nhờ vào sự xuất hiện và tham gia của CTCK. TTCK và CTCK có mối liên hệ mật thiết với nhau, cái này phát triển sẽ làm tiền đề phát triển cho cái còn lại.Vì vậy, một TTCK hưng thịnh luôn kéo theo nhiều CTCK ra đời.
Dé phục vụ cho sự phát triển của thị trường, bắt kịp thời đại, cần có một yếu tố không thể không nhắc đến là sự chuyên nghiệp xuất phát từ những nhà môi giới. Trước khi có sự ra đời của CTCK, tất nhiên đã có bộ phần khác thực hiện nhiệm vụ trung gian này. Đó chính là các NMG cá nhân xuất hiện, hoạt động của họ độc lập với nhau. Thời điểm nàyTTCK vừa mới ra đời, thông tin về thị trường còn ít, nhà đầu tư tìm hiểu về thị trường này không nhiều bởi vậy các nhà môi giới độc lập hoàn toàn làm được tốt công việc của mình.
Họ kiểm soát được vai trò trung gian vì đối tượng tham gia thị trường còn khá ít. Tuy nhiên, theo thời gian, thị trường ngày một phát triển. Người ta hiểu hơn về thị trường và từ đó mà số lượng NDT tham gia thị trường cũng ngày càng tăng lên. Khi đó, việc trung gian cũng không còn dễ để đảm nhận nữa, nó trợ nên phức tạp và ngày một nhiều.Thời điểm đó NMG hoạt động một cách độc lập khó mà hoàn thành tốt công việc của mình.
Công ty chứng khoán đã ra đời như một hệ quả tất yếu. Sinh viên: Vũ Quỳnh Hương 3 Lớp: Tài chính công 58 Như vậy “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK nhằm thu phí°.CTCK mang tư cách pháp nhân trên thị trường, có vốn riêng và thực hiện chế hạch toán độc lập theo giấy phép hợp lệ được cấp bởi Uy ban chứng khoán. Bởi vậy, cũng có thé nói rằng công ty chứng khoán thực chất là doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán. Loại doanh nghiệp này tồn tại các nghiệp vụ như luật định cho phép, đáp ứng đầy đủ các quy định về chế độ hạch toán cũng như nguồn vốn do luật đề ra.
Phân loại công ty chứng khoán Không chỉ trên thế giới mà ngay ở Việt Nam, các CTCK được chia theo 2 tiêu chí là hình thức tổ chức hoạt động và hình thức kinh doanh.Theo hình thức tổ chức hoạt động của Công ty chứng khoán Dựa vào đặc điểm về hình thái tổ chức, CTCK sẽ bảo gồm ba loại hình là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Công ty cỗ phần: CTCPđược quy định là một pháp nhân độc lập, thuộc sở hữu của nhiều người. Giá trị danh nghĩa của công tysẽ được chia ra nhiều phần, mỗi phần đều bang nhau và người ta gọi với cái tên là là một cỗ phan. Tờ giấy biéu thị giá trị của cô phan hay còn được biết với tên gọi cổ phiếu; cô đông là người sở hữu cô phiếu đó và có thể nhiều cổ phiếu khác nữa.Cô đông sẽ được chỉ định vai trò và quyền hạn dựa trên lượng cổ phan mà cô đông đang nắm giữ nhiều hay ít, Dai hội cô đông sẽ tiến hành chỉ định Hội động quản trị, gồm có Chủ tịch HĐQT và Ban giám đốc.
Với chức vụ Giám đốc , đó hoặc là thành viên HĐQT hoặc là người được thuê ngoài. Với phạm vi theo mức độ góp vốn, các cô đông sẽ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản.Công ty vẫn hoạt động bình thường khi quyền sở hữu của công ty thay đổi nên hình thái tổ chức có khá nhiều ưu điểm so với bộ máy tô chức khác. Công ty hợp danh: Đây là loại hình được thành lập do vài ba người dựa trên cơ sở quen biết, tin tưởng nhau, cùng hòa vốn đề thành lập trên cơ sở trách nhiệm vô hạn va đầy đủ đối với các thành viên. Đối với các hoạt động của công ty, mỗi thành viên đều phải chịu trách nhiệm vô hạn là đầy đủ.
Một số thành viên tuy đóng góp vốn vào công, ty nhưng lại không tham gia điều hành và quản lý công ty. Trong giới hạn số vốn góp của mình tại công ty, họ chịu loại trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty. Sinh viên: Vũ Quỳnh Hương 4 Lớp: Tài chính công 58 Công ty trách nhiệm hữu hạn: Công ty TNHH giống với loại hình công ty hợp danh ở trên, tuy nhiên, trách nhiệm của các thành viên là trách nhiệm hữu hạn, giống như tên gọi của công ty. Điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn (đã được pháp luật bảo hộ) ghi rõ các thành viên chịu trách nhiệm trên phần vốn góp và chịu một phần trách nhiệm đối với công nợ của công ty.
Bên cạnh loại công ty TNHH thường gap, có loại công ty trách nhiệm hữu hạn “một chủ”. Tức là công ty do chỉ một thành viên giữ vai trò điều hành và các thành viên sẽ chí có trách nhiệm trên phần vốn góp. Ta thấy rặng, đối chiếu so sánh với công ty hợp danh, phương tiện huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có ưu điểm hơn ở chỗ đơn giản và linh hoạt. Loại công ty này tuyên đội ngũ nhân viên nhằm mục dich quan lý sẽ thoái mái hơn, không yêu cầu giới hạn ở vài đối tưởng cô định nào, trong khi đó công ty hợp danh chỉ giới hạn trong một số đối tác.Phân loại theo hình thức kinh doanh Ở hình thức phân loại này, ta sẽ 6 loại dựa theo tiêu chí này như sau: Công ty môi giới: Với hình thức này, công ty là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán.
Chính vì vậy nó còn có tên gọi khác là công ty thành viên. Trên Sở giao dịch chứng khoán, công ty này sẽ làm nhiệm vụ đứng ra làm trung gian, đáp ứng các nhu cầu giao dịch của khách hàng. Công ty đầu tư ngân hàng: Đầu tiên, công ty đầu tư ngân hàng sẽ mua chứng khoán do CTCP phát hành. Sau đó, họ tiến hành bán lại cho thị trường số chứng khoán kê trên.
Mức gia bán ra sẽ có sẵn cả lợi nhuận công ty trong đó. Chính bởi hoạt động này, công ty đầu tư ngân hàng còn được biết đến với cái tên là nhà bảo lãnh phát hành. Công ty giao dịch phi tập trung: Ngay từ cái tên ta có thé hiểu được sơ qua hoạt động của loại công ty này. Các công ty này tiến hành mua và bán chứng khoán trên thị trường OTC.
Bây giờ nhà nước đã cho phép các công ty sở hữu vốn khối lượng lớn được hoạt động trên cả ba lĩnh vực. Công ty dịch vụ đa năng: Khác với tất cả các loại hình công ty ở trên, loại công ty này là những công ty duy nhất có hoạt động không bị bó hẹptrong một lĩnh vực nhất định của ngành nghề này. Bên cạnh ba nghiệp vụ chính trên, khách hàng có thể được phục vụ dịch vụ tư vân về việc đâu tư chứng khoán hoặc mang chứng khoán đi niêm Sinh viên: Vũ Quỳnh Hương 5 Lớp: Tài chính công 58 yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Thậm chị, các khách hàng ủy nhiêm lại giao dich mua bán trên thị trường phi tập trung cho công ty cung cấp dịch vụ.
Các dịch vụ được triển khai khá đa dạng, phong phú. Cơ sở xây dựng, phát trên chúng quyết định dựa trên sự kết hợp giữa kinh nghiệm mà công ty có với các sản phâm của công ty. Công ty buôn bán chứng khoán: Chứng khoán sẽ được mua bán bởi loại hình công ty này với chi phí tự chịu. Do đó, dé thu được lợi nhuận nhiều nhất, công ty cần bán lại các chứng khoán này với giá cao nhất có thể.
Các công ty này không phải đại lý nhận ủy thác mà hoạt động với tư cách của người ủy thác. Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng: Cuối cùng là loại hình công ty hưởng chênh lệch giá thông qua việc mua bán chứng khoán. Nhà tạo lập thị trường trên OTC là một cách gọi khác của các công ty hoạt động theo cơ chế này. Có thể nói, UBCKNN sé ban hành các nguyên tắc, quy chế dé quản lý chặt chẽ, sát sao các công ty chứng khoán và họ bị chi phối các hoạt động kinh doanh dựa theo nguyên tắc đó.
Vai trò của các công ty chứng khoán CTCK đóng góp một vai trò quan trọng, không thé thiếu trên TTCK. Các công ty là nhà đầu tư đối với các doanh nghiệp thông qua hình thức tự doanh. Các công ty còn đứng ra làm tổ chức trung gian hỗ trợ đắc lực người mua và người bán biết đến nhau, hỗ trợ kết nối cả tổ chức phát hành và nhà đầu tư. Bên cạnh đó, TTCKdùng những tiện ích mà công ty mang lại như chất “bôi trơn” để hoạt động trơn tru hơn, hiệu qua hơn.