CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE CƠ BẢN VE HOẠT ĐỘNG MOI GIỚI CUA CONG TY CHUNG KHOAN 1. CÔNG TY CHUNG KHOAN 1. Khái niệm “Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dich mua bán, trao đổi các loại chứng khoán, là một bộ phận chủ yếu của thị trường tài chính.” Đối với quá trình huy động và sử dụng vốn của nền kinh tế, TTCK có vai trò quan trọng. Giao dịch trên TTCK hoạt động không phải trực tiếp do bên mua hay bán thực hiện.
Việc quy định giao dịch trên TTCK thông qua môi giới sẽ “đảm bảo cho các chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và hợp pháp, đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, từ đó giúp thị trường hoạt động lành mạnh, đều đặn, công bằng và hiệu quả.” Cùng với sự phát triển của TTCK, vai trò của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các công ty chứng khoán là sự tập hợp có tô chức của các nhà môi giới riêng lẻ. Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thê đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán. Tùy theo điều kiện cụ thể, Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán có thé quy định cụ thé về quy mô vốn điều lệ tối thiêu đối với từng nghiệp vụ. Theo pháp luật Việt Nam, CTCK chỉ được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Điều kiện cấp giấp phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán bao gồm: - Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và phát trién chứng khoán. - Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán. - Có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ. Vốn pháp định đối với các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chỉ nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam là: + Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng VND + Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng VND 1V + Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng VND + Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng VND “- Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, các nhân viên kinh doanh của CTCK phải đáp ứng đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do UBCKNN cấp.
- Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho công ty có Giấy phép tự doanh. Phân loại công ty chứng khoán a) Theo loại hình tô chức: Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó ít nhất phải có 2 thành viên là chủ sở hữu, cùng nhau kinh doanh dưới một chung là thành viên hợp doanh, ngoài ra còn có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ của công ty trong giới hạn góp vốn của họ vào công ty.
Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kê từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tuy nhiên công ty không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Công ty trách nhiệm hữu hạn: Doi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạn trong số vốn mà họ đã góp vào công ty do đó gây nên tâm lý nhẹ nhàng hơn đối với người đầu tư. Huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty hợp danh. Van đề tuyến đội ngũ quan lý cũng năng động hơn, không bị giới hạn bó hẹp.
Vì những lý do đó, hiện nay rất nhiều CTCK hoạt động dưới hình thức trách nhiệm hữu hạn. Công ty cổ phan: “Là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các cổ đông. Cô đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Đại hội đồng cô đông có quyên bau hội đồng quản trị của công ty.
Hội đồng này sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vị quản lý khác để điều hành công ty theo các sách lược kinh doanh đã đề ra. Giấy chứng nhận cô phiếu không thé hiện một món nợ của công ty, mà thé hiện quyên lợi của người sở hữu nó đối với tài sản của công ty. Công ty vẫn tồn tại khi quyền sở hữu của công ty thay đôi.” b) Theo hình thức kinh doanh Công ty chứng khoán chia thành 6 loại sau: Công ty môi giới (The member firm): Còn được gọi là công ty thành viên vi nó là một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Chủ yếu kinh doanh mua và bán chứng khoán cho khách hàng trên SGDCK mà công ty là thành viên.
Công ty dau tr ngân hàng (The Investment banking firm): “La công ty bảo lãnh phát hành, phân phối mới được phát hành cho công chúng qua việc mua chứng khoán do công ty cô phần phát hành và bán lại cho công chúng theo giá tính gộp cả lợi nhuận của công ty.” Công ty giao dich phi tập trung (The over the counter firm): “Mua bán chứng khoán tại thị trường OTC.” Những công ty có vốn lớn được luật pháp cho phép hoạt động trên cả 3 lĩnh vực trên. Công ty dịch vụ da năng (Muliservices firm): Không bị giới hạn hoạt động ở một lĩnh vực nào. Ngoài 3 dịch vụ trên, họ còn “cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư van đầu tư chứng khoán, niêm yết chứng khoán trên SGDCK, uỷ nhiệm các giao dịch buôn bán cho khách hàng trên thị trường OTC.” Sự kết hợp giữa các sản pham và kinh nghiệm của công ty sẽ quyết định cơ sở những dịch vụ mà họ có thể cung cấp cho khách hàng. Công ty buôn bán chứng khoán: Là công ty đứng ra mua bán chứng khoán với chi phí do công ty tự chịu, giá bán phải cao hơn giá mua.
Vì vậy, loại công ty này “hoạt động với tư cách là người uỷ thác” chứ không phải đại lý nhận uỷ thác. Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng: “La công ty này nhận chênh lệch giá qua việc mua bán chứng khoán, do đó họ còn được gọi là nhà tạo lập thị trường, nhất là trên thị trường giao dịch OTC. Vai trò của công ty chứng khoán Trên TTCK, CTCK có vai trò đặc biệt quan trọng, “vừa là nha đầu tư tham gia trực tiếp vào hoạt động của thị trường, lại vừa là cầu nối giữa nhà phát hành và những nhà đầu tư khác, cung cấp dịch vụ cần thiết phục vụ hoạt động của thị trường.” CTCK còn góp phần duy trì và thúc đây hoạt động của TTCK. Cho dù là Sở giao dịch hay OTC thì sự có mặt của các CTCK là điều không thê thiếu.
Đối với từng chủ thé khác nhau trên thị trường thì vai trò của công ty chứng khoán là khác nhau. - Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. CTCK có vai trò “làm chiéc câu nôi và đông thời là các VI kênh dẫn vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn.” Thường thì CTCK đảm nhiệm vai trò này qua hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán. - Doi với nhà dau tu: Qua các hoạt động như MGCK, tư vấn đầu tư, CCTCK có vai trò làm giảm chỉ phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.
Với hàng hoá thông thường, mua bán trung gian sẽ làm tăng chi phí cho bên mua và bên bán. Tuy nhiên, với TTCK, sự biến động thường xuyên của giá chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho nhà đầu tư tốn kém chỉ phí, công sức và thời gian tìm hiéu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các CTCK với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp, sẽ giúp các nhà dau tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả. - Đối với thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán có 2 vai trò chính: “Thứ nhất, góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường.
Giá cả là do thị trường quyết định. Dé đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán.” Các CTCK là những thành viên của thị trường, do đó cũng góp phan tạo lập giá cả thi trường thông qua hình thức đấu giá. Các CTCK còn thé hiện vai trò to lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường. Dé bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty đã giành những tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình 6n thị trường.
“Thứ hai, góp phần làm tăng tính thanh khoản của tài sản chính. TTCK có vai trò làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò này vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường.” Trên thị trường sơ cấp, do thực hiện hoạt động như bảo lãnh phát hành, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán trên thị trường thứ cấp. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư.
Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán, các CTCK giúp nhà đầu tư chuyền đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. VI - Đôi với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của CTCK vì cần phải minh bạch và công khai trong mọi hoạt động.
Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát, phòng chống và đối phó với các hiện tượng thao túng, ling đoạn, bóp méo thị trường.