CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH VÀ DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Công nghệ tài chính 1. Khái niệm và ứng dụng của công nghệ tài chính Khái niệm Fintech Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất trên toàn cầu cho Fintech (Công nghệ tài chính), tuy nhiên có thể khẳng định Fintech là một thuật ngữ được tạo ra bằng cách kết hợp “Finance” và “Technology”, có thể hiểu là sự đổi mới dịch vụ tài chính dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Ban đầu, Fintech chỉ được dùng để nói về khía cạnh kĩ thuật hay công nghệ máy tính mà một tổ chức tài chính, ngân hàng ứng dụng trong quá trình cung ứng dịch vụ của mình.
Cũng có thể hiểu Fintech là việc áp dụng công nghệ vào trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhằm mang tới những dịch vụ tài chính, ngân hàng an toàn, tiện lợi với chi phí thấp hơn so với các dịch vụ tài chính, ngân hàng truyền thống đồng thời làm cho các dịch vụ tài chính dễ tiếp cận với công chúng. Tuy nhiên từ khi cách mạng số bùng nổ, Fintech còn được mở rộng ra bao gồm tất cả những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực tài chính, bao gồm cả những đổi mới trong hiểu biết và giáo dục tài chính, ngân hàng bán lẻ, đầu tư và tiền mã hóa… Fintech còn được hiểu theo nghĩa “Fintech là một ngành công nghiệp tài chính mới áp dụng công nghệ để cải thiện hoạt động tài chính” hay “Fintech là những ứng dụng, quy trình, sản phẩm hay mô hình kinh doanh trong lĩnh vực tài chính nhằm mục tiêu cạnh tranh với những phương thức cung cấp dịch vụ tài chính truyền thống” (Arner và các cộng sự, 2015). Hệ sinh thái fintech Cùng với sự phát triển của Internet và công nghệ di động, công nghệ tài chính đã không ngừng phát triển và bùng nổ nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hoành hành, Fintech đã trở thành trào lưu phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu với sự gia nhập thị trường tài chính, ngân hàng của các công ty công nghệ. Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, Fintech đã xây dựng được một hệ sinh thái vận động dựa trên khả năng tiếp cận thi trường, hỗ trợ pháp lý và khả năng tiếp cận vốn.
Ba nhân tố chính tạo lập nên hệ sinh thái Fintech là Chính phủ, Tổ chức tài chính và các công ty Fintech, mỗi nhân tố với thế mạnh 6 riêng của mình đã đóng góp vào hệ sinh thái này đồng thời hưởng lợi ích mà hệ sinh thái mang lại. Chính phủ đóng vai trò thiết lập khuôn khổ, hành lang pháp lý cho sự hình thành và phát triển của các công ty Fintech. Đồng thời Chính phủ cũng được hưởng lợi từ những giải pháp mà các Công ty Fintech mang lại cho hoạt động thường nhật của Chính phủ với tư cách của một tổ chức cung ứng dịch vụ công tới công chúng cũng như hỗ trợ Chính phủ để đạt được các mục tiêu về kinh tế - xã hội như phổ cập tài chính, xóa đói giảm nghèo…. Tùy thuộc vào kế hoạch và chính sách phát triển của từng quốc gia mà các chính phủ đã và đang đưa ra những mức độ quy định khác nhau như cấp phép các dịch vụ tài chính, nới lỏng các yêu cầu về vốn, ưu đãi về thuế… cho các start-up Fintech.
Các tổ chức tài chính đóng vai trò quan trọng trong thành công của các mô hình kinh doanh của Fintech thông qua quá trình đầu tư hình thành, hỗ trợ các chương trình khởi nghiệp, hỗ trợ vốn cho các giải pháp Fintech, hợp tác nghiên cứu xây dựng và phát triển giải pháp công nghệ tài chính mới… Bản thân các tổ chức tài chính cũng là đối tượng trực tiếp được hưởng thành quả từ những giải pháp sáng tạo mà các công ty Fintech đem lại, ứng dụng trong quá trình hoạt động, cung ứng dịch vụ của mình. Ưu điểm cũng là nhược điểm của các tổ chức tài chính truyền thống là có xu hướng tập trung vào các dịch vụ theo nhóm, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính toàn diện theo kiểu 1 cửa cho người tiêu dùng thay cho các sản phẩm và dịch vụ chuyên biệt, phân tách. Việc cộng tác với các start- up Fintech sẽ giải quyết được vấn đề này. Các công ty Fintech bao gồm các start-up Fintech và các nhà phát triển công nghệ (phân tích Big data, điện toán đám mây,…) với kiến thức và kinh nghiệm trong công nghệ đã trực tiếp nghiên cứu và phát triển giải pháp công nghệ với mục đích ứng dụng vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhưng thiếu kinh nghiệm và kiến thức về quản trị trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, cũng như thiếu một tệp khách hàng nên sự hợp tác cộng sinh giữa các tổ chức tài chính và các công ty Fintech để tạo nên hệ sinh thái Fintech bền vững là xu thế tất yếu và chủ đạo hiện nay cũng như trong tương lai.
Ngoài 3 nhân tố trên thì khách hàng tài chính cũng là một yếu tố quan trọng trong hệ sinh thái Fintech khi đóng vai trò là nguồn tạo ra doanh thu chính. Khách hàng tài chính mang lại nguồn doanh thu chủ yếu cho các công ty Fintech thường là khách hàng cá nhân 7 (chủ yếu là những người có hiểu biết về công nghệ, trẻ tuổi, sinh sống ở đô thị và có thu nhập cao) và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các ứng dụng của fintech Các công ty Fintech hoạt động trên nhiều lĩnh vực, phân khúc khác nhau tuy nhiên trong hệ thống tài chính, ngân hàng, các lĩnh vực hoạt động chính của Fintech có thể kể đến bao gồm: Ứng dụng vào thanh toán: Thanh toán là lĩnh vực đầu tiên mà các công ty Fintech tiếp cận, nghiên cứu phát triển giải pháp và hiện nay vẫn là lĩnh vực hoạt động chính của các công ty Fintech trên thế giới. Các dịch vụ thanh toán này có thể được xây dựng trên các nền tảng Internet hay thiết bị di động như Tiền điện tử (E-money), thanh toán di động (Mobile payment), thanh toán qua QR code… Với đặc thù nhanh chóng, tiện lợi và an toàn, hầu hết các đơn vị trung gian thanh toán trên thị trường đều đang hướng sang lĩnh vực thanh toán điện tử, năm 2019, thị trường thanh toán điện tử thế giới đã vượt mốc 1 nghìn tỷ USD, và thanh toán di động được đánh giá sẽ thay thế thẻ thanh toán truyền thống như Visa, MasterCard… Ứng dụng vào lập kế hoạch tài chính, tiết kiệm, đầu tư và quản lý tài sản: Các nền tảng cố vấn robo (Robo-Adviser) sử dụng các thuật toán để xây dựng và quản lý danh mục đầu tư cho các nhà đầu tư đã xuất hiện trên thị trường tài chính từ năm 2008.
Cùng với sự phát triển của công nghệ, các Robo-Adviser cũng không ngừng phát triển về tính năng và hiệu suất hoạt động để cung cấp cho khách hàng những lời khuyên, tư vấn từ đơn giản đến phức tạp như phân bổ tài sản, tự động lập danh mục đầu tư, tự động quản lý thực hiện tái cân bằng danh mục,… với mức phí phù hợp và rẻ hơn so với các nhà tư vấn tài chính và quản lý đầu tư truyền thống. Robo-Adviser dựa trên các thuật toán qua mạng Internet cũng giúp khách hàng xây dựng được kế hoạch quản lý tài chính cá nhân thông qua phần mềm trên điện thoại thông minh (theo dõi thu nhập, chi phí), quản lý khoản tiền gửi hoặc khoản vay, phân tích hành vi tiêu dùng của khách hàng để đưa ra giải pháp quản lý tài chính phù hợp… Các công ty Fintech đã đưa dịch vụ này tới toàn bộ dân cư thay vì dịch vụ chỉ dành cho người giàu như tổ chức tư vấn truyền thống. 8 Ứng dụng trong tín dụng, cho vay ngang hàng (P2P Lending): các công ty Fintech hoạt động theo mô hình cho vay ngang hàng peer-to-peer (P2P Lending), cung cấp nền tảng để kết nối khách hàng đi vay với người cho vay nhằm mục đích giảm chênh lệch giữa chi phí của người đi vay với lợi suất của người cho vay. Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đã khiến nhiều khách hàng vay, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận vốn vay từ hệ thống ngân hàng do mức rủi ro cao đã tạo cơ hội cho các công ty Fintech gia nhập thị trường tín dụng với khách hàng mục tiêu là những khách hàng chưa được phục vụ hoặc không được phục vụ đầy đủ bởi hệ thống ngân hàng truyền thống.
Ứng dụng trong lĩnh vực bảo hiểm: Ngoài việc cung cấp các công nghệ mới trong kinh doanh bảo hiểm thay vì phân phối sản phẩm thông qua mạng lưới đại lý ngoại tuyến với mức hoa hồng chiết khấu cao sẽ cung cấp trực tiếp sản phẩm tới khách hàng với các dịch vụ có mức phí rẻ hơn thì các công ty Fintech còn đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy khả năng tìm kiếm loại hình bảo hiểm phù hợp và mang lại những giải pháp tốt hơn cho khách hàng. Ứng dụng nổi bật trong lĩnh vực này có thể kể đến là peer-to-peer Insurance (P2P Insurance) có thể giảm bớt chi phí, nâng cao tính minh bạch của hợp đồng bảo hiểm, giảm bớt mâu thuẫn giữa công ty bảo hiểm với khách hàng trong thời gian thực hiện bồi thường bảo hiểm. Ứng dụng trong Blockchain và tiền điện tử: Blockchain là hệ thống cơ sở dữ liệu dạng khối cho phép người dùng lưu trữ và truyền tải thông tin một cách an toàn. Các khối thông tin này được liên kết với nhau bởi một hệ thống mã hoá vô cùng phức tạp.
Chúng hoạt động độc lập, có thể mở rộng theo thời gian và được quản lý trực tiếp bởi những người tham gia chứ không thông qua bất cứ bên trung gian nào. Blockchain được tạo ra để giảm rủi ro và chống lại việc gian lận trong giao dịch thực tế do khối thông tin đã được ghi nhận vào Blockchain thì không có cách nào thay đổi, mà chỉ có thể bổ sung khi có sự đồng thuận của tất cả cá nhân tham gia. Công nghệ Blockchain được biết nhiều và phổ biến rộng rãi qua đồng tiền điện tử Bitcoin – ra đời vào năm 2008 và giao dịch thành công lần đầu tiên vào năm 2009 bởi Hal Finney và Satoshi Nakamoto. Blockchain được hình thành bởi sự kết hợp của 3 loại công nghệ: Mật mã học (được sử dụng để đảm bảo tính minh bạch, toàn vẹn và riêng tư), Mạng ngang hàng (mỗi một nút trong mạng được xem như một client và cũng là server để lưu trữ bản sao ứng dụng) và Lý thuyết trò chơi (tất cả các nút tham gia vào hệ thống đều phải tuân thủ luật chơi đồng thuận (giao thức PoW, PoS,…) và được thúc 9 đẩy bởi động lực kinh tế.