Chương I sẽ giới thiệu tong quan dé tài trong đó trình bày về lý do hình thành dé tai, vẫn dé nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và phương pháp dự kiến. Nội dung chương II là cơ sở lý thuyết trình bày định nghĩa các khái niệm, tông ket các nghiên cứu liên quan đền yêu tô có liên quan đên ý định hành vi, tổng kết các yếu tô liên quan đến ý định sử dụng thanh toán điện tử. Chương III trình bày về phương pháp nghiên cứu trong đó mô tả quy trình thực hiện, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp kiểm định, phân tích, xử lý dữ liệu và kết quả nghiên cứu sơ bộ. Chương IV trình bay các phân tích dữ liệu, kết quả phân tích của nghiên cứu và thảo luận kết quả.
Cuối cùng, Chương V là chương kết luận và kiến nghị, trong đó trình bày tóm tắt kết quả chính, đưa ra các kiến nghị và hạn chê của đê tài. TONG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYET Nội dung chương bao gôm định nghĩa của các khái niệm nghiên cứu, trình bày các nghiên cứu trước có liên quan và các hạn chế. Từ đó lựa chọn mô hình lý thuyết phù hợp nghiên cứu và tong hop các yếu tô có liên quan đến khdi niệm nghiên cứu.1 GIAI THÍCH MOT SO KHÁI NIEM QUAN TRONG 2.1 Thanh toán điện tử Nói một cách tong quat, thanh toan trong bối cảnh thương mại điện tử là một loại giao dịch trực tuyến diễn ra thông qua internet, không cần dùng các công cụ giấy tờ, là đại diện cho bất kỳ loại thanh toán không dùng tiền mặt mà không liên quan đến séc (Hord, 2005). Thanh toán điện tử là hình thức chuyền giá trị thanh toán điện tử của người nộp đến người thụ hưởng thông qua một cơ chế cho phép khách hàng truy cập từ xa và quản lý các tài khoản ngân hàng và các giao dich của họ thông qua mạng điện tử (Lim và cộng sự, 2006).
Một số hệ thống thanh toán điện tử như thẻ tín dụng giao dịch trực tuyến, ví điện tử, tiền điện tử. hệ thống giá tri lưu trữ trực tuyến, hệ thống cân đối tích lũy kỹ thuật số, hệ thống kiểm tra thanh toán kỹ thuật số và hệ thống thanh toán không dây (Junadi và Sfenrianto, 2015). Một số hình thức thanh toán điện tử pho biến tai Việt Nam như thẻ thanh toán (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng), ví điện tử, giao dịch trực tuyến, " 2.2 Y định sử dụng Sự chấp nhận công nghệ của người sử dụng được định nghĩa là sự tự nguyện áp dụng công nghệ cho những nhiệm vụ mà nó được thiết kế để hỗ trợ và phải có thé giai thich được (Dillon va Morris, 1996). Dinh nghĩa nay loại bỏ những trường hợp ma người sử dụng không thể cung cấp bằng chứng cho việc sử dụng công nghệ của họ, chăng hạn sử dụng kết nối Internet để giải trí trong môi trường làm việc.
Từ đó, quá trình chấp nhận công nghệ có mục đích của người dùng có thể được mô hình hóa và dự đoán. Trong nghiên cứu, nhiều tác gia quan tam và nghiên cứu trường phái xem xét vân đề chap nhận sử dụng dưới dạng là đầu ra của quá trình tâm lý của người sử dụng khi đưa ra những quyết định về công nghệ (Dillon va Morris, 1996). Vấn dé nay cũng được xem xét dưới góc nhìn thiết kế và phát triển công nghệ (Dillon và Morris, 1996). Trong phạm vi nghiên cứu, học viên tập trung tìm hiểu các nghiên cứu dưới góc nhìn tâm lý học để phù hợp với mục đích và mục tiêu nghiên cứu.
Theo Ajzen và Fishbein (1980), việc thực hiện hành vi cụ thể của một người được quyết định bởi ý định hành vi của người đó. Theo đó, "ý định bao gồm những yếu tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi. Chúng là những chỉ dau cho thay mức độ chăm chỉ cố gang va nỗ lực dé thực hiện các hành vi mà đối tượng đang có kế hoạch hành động”. “Khi người ta có ý định tham gia vào hành vi một cách mạnh mẽ hon, khả năng họ thực hiện hành vi đó lớn hơn” (AJzen, 1991).
“Y định” là khái niệm đại diện cho một người đã sẵn sàng thực hiện các hành vi liên quan (Kripanont, 2007).2 TONG KET LÝ THUYET LIÊN QUAN 2.1 Trường phái lý thuyết về ý định hành vi Một số lý thuyết hành vi dưới góc nhìn tâm lý được nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng là lý thuyết hành động hợp lý, lý thuyết hành vi dự định, lý thuyết động viên, lý thuyết lan truyền đổi mới, lý thuyết nhận thức xã hội, nhóm lý thuyết thiết kế riêng cho lĩnh vực công nghệ như lý thuyết chấp nhận công nghệ, lý thuyết chấp thuận va sử dụng công nghệ hợp nhất. Trong đó, lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được Ajzen và Fishbein phát triển lần đầu vào năm 1980 và tiếp tục điều chỉnh bố sung là mô hình được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực và có ứng dụng rộng rãi trong học thuật và kinh doanh (Magee, 2002 dan từ Kripanont, 2007). Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) 1a một trong những mô hình đầu tiên và có sức thuyết phục trong nghiên cứu hành vi chấp thuận công nghệ thông tin (Davis và cộng sự, 1989 dẫn từ Kim và cộng sự, 2009). Trong khi lý thuyết chấp thuận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT) được Venkatesh và cộng sự phát triển lần đầu vào 2003 là mô hình hợp nhất tám lý thuyết về sự chấp nhận đã có trước đó.
Đến nay, lý thuyết nay đã được nhiều tác giả kiểm chứng trong các nghiên cứu về công nghệ thông tin (Fai, 2011). Hai lý thuyết TAM và UTAUT cũng được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu về chấp thuận thanh toán điện tu (Kabir, 2015). Do vậy, hoc viên sẽ tập trung tìm hiểu về ba lý thuyết TRA, TAM và UTAUT.1 Lý thuyết hành động hợp lý Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) dựa theo góc nhìn tâm lý xã hội mô tả sự tác động của ý định cá nhân lên hành vi. TRA đã được chứng minh có khả năng dự đoán và giải thích được "hầu như tất cả hành vi con người" (Ajzen và Fishbein, 1980).
Nội dung chính của lý thuyết hành động hợp lý được trình bảy như sau. Hành vi cá nhân được quyết định boi dự định thực hiện hành vi và ý định này chịu tác động bởi hai yếu tố: Thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan. Trong đó, thái độ đề cập đến mức độ tích cực hay tiêu cực đối với việc thực hiện hành vi. Thái độ chịu ảnh hưởng bởi kỳ vọng của một cá nhân về những kết quả đạt được từ thực hiện hành vi và đánh giá của người đó về kết quả này.
Lý thuyết này đề xuất mỗi người sẽ nghĩ về quyết định của họ và các kết quả có thể đạt được trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào. Những cá nhân tin rằng có hành vi có thé mang lại kết quả tích cực sẽ có thái độ tích cực đối với hành vi đó. Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của cá nhân cho rằng những người cụ thể hoặc nhóm nghĩ rằng cá nhân này nên thực hiện/không nên thực hiện hành vi và sự thúc day của bản thân trong việc tuân thủ những yêu câu của người khác. Mặc dù TRA được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và là nền tảng của nhiều lý thuyết khác nhưng lý thuyết nay vẫn tồn tại một số giới han.
TRA dựa trên giả định mọi người đều duy lý nghĩa là mọi người đều cân nhắc những van dé liên quan đến hành động của họ trước khi thực hiện hành vi. Tuy nhiên trong một số trường hop, giả định này không lý giải được những động cơ không có ý thức (Fai, 2011). Ajzen (1985) dẫn theo Al-Qeisi (2009) cho răng các thói quen hay các hành vi ma không có ý thức sẽ không thể lý giải băng lý thuyết này.2 Lý thuyết Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model-TAM, Davis, 1989) Davis va cộng su (1989) phát triển mô hình TAM dựa trên nên tang mô hình TRA dé dự đoán và giải thích hành vi chấp nhận sử dụng máy tính của người sử dụng. Theo Davis và cộng sự (1989), lý thuyết TAM mô tả cách thức người dùng chấp nhận và sử dụng công nghệ, có khả năng dự đoán thành công được 40% (Teo và cộng sự, 2008).
Trong vòng mười năm kề từ khi được giới thiệu, TAM trở thành mô hình thiết thực, có tác động lớn trong việc dự đoán hành vi người dùng (Venkatesh va Davis, 2000 dan từ Kripanont, 2007). Nội dung chính của TAM được trình bày dưới đây: - M6 hình TAM được phát triển dựa trên mô hình TRA nên ý định vẫn là yếu tố dẫn đến hành vi sử dụng. Hai yếu tố thái độ và nhận thức sự hữu ích tác động lên ý định sử dụng. Theo Davis và cộng sự (1989) dẫn từ Dillon và Morris (1996), trong môi trường làm việc, ý định sử dụng công nghệ cũng có thể chịu tác động bởi những ảnh hưởng được biết trước về năng suất bất chấp có hay không có sự tham gia của thái độ người sử dụng nên yếu tố nhận thức sự hữu ích cũng trực tiếp tác động lên ý định sử dụng - Tac động đến thái độ sử dụng là hai yếu tố: - Nhận thức sự hữu ích là mức độ người dùng tin rằng việc sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ gia tăng năng suất công việc.
- Nhận thức sự dé sử dụng là mức độ người dùng tin rằng việc dùng hệ thống đặc tha rat dé dang - _ Yếu tô nhận thức dé sử dụng tác động đến yếu tố nhận thức sự hữu ích nghĩa là trong điều kiện có hai hệ thống mang lại những lợi ích tương tu, hệ thống nào dễ sử dụng hơn sẽ được người sử dụng xem là hữu ich hon (Dillon va Morris, 1996) 10 - TAM đề cập đến ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài đến nhận thức hữu ích và nhận thức dễ sử dụng như tính chất hệ thống, đào tao, sự tham gia của người dùng vào quá trình thiết kế, triển khai (Davis và cộng sự, 1996 dẫn từ Al-Qeisi, 2009). Mô hình TAM không ngừng được điều chỉnh bố sung. Venkatesh va Davis giới thiệu mô hình TAM2 vào năm 2000 bao gồm những nội dung chính: - Tương tự TAM, ý định sử dụng van là yếu tố trung tâm ảnh hưởng đến hành vi - Y định chịu tác động trực tiếp bởi nhận thức hữu ích và nhận thức dễ sử dụng - Cac yếu tô bên ngoài tham gia giải thích cho yếu tô nhận thức sự hữu ích bao gồm chuẩn xã hội, hình ảnh, chất lượng, những kết quả có thé chứng minh được.