LỜI MỞ ĐẦU: Giới thiệu về lý do lựa chọn đề tài, tính mới cũng như tóm lược kết quả nghiên cứu của khóa luận PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU: Giới thiệu tính cấp thiết của đề tài, đưa ra vấn đề nghiên cứu và tổng quan lý thuyết, đồng thời trình bày kết quả của các nghiên cứu trước đó PHẦN 3: SỬ DỤNG SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Tổng quan về số liệu được sử dụng trong nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Trình bày thực trạng công ty VietinBankSc, đánh giá chất lượng công tác phân tích cổ phiếu tại công ty VietinBankSc và đưa ra những khuyến nghị, giải pháp phù hợp PHẦN 5: KẾT LUẬN X PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà phát triển lớn mạnh, bền vững, và ngày càng trở thành một kênh thu hút vốn đáng tin cậy đối với doanh nghiệp cũng như một kênh đầu tư đáng tin cậy với nhà đầu tư. Chính vì vậy, nhu cầu của nhà đầu tư với những dịch vụ được cung cấp bởi công ty chứng khoán ngày càng cao.
Với nhà đầu tư, họ cần nhiều hơn là một nền tảng chỉ đơn giản cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán và theo dõi bảng giá, và chính vì vậy sự cần thiết của công tác tư vấn đầu tư ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, để có thể đưa ra một lời tư vấn, một khuyến nghị đầu tư, công ty chứng khoán, bộ phận tư vấn, hay môi giới chứng khoán không thể liều lĩnh nói khi không có căn cứ gì. Và đây là lý do công tác phân tích cổ phiếu cần được tập trung phát triển bởi công ty chứng khoán, nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, nâng cao hình ảnh công ty chứng khoán, thu hút khách hàng mới và giảm thiểu áp lực lên những bộ phận chăm sóc khách hàng khác như môi giới chứng khoán. Tuy nhiên, làm thế nào để phát triển, cải thiện cũng như đảm bảo sự tiến bộ trong công tác phân tích cổ phiếu? Để làm được điều này, trước tiên công ty chứng khoán cần có khả năng đánh giá hiệu quả, chất lượng công tác phân tích cổ phiếu hiện tại, từ đó đưa ra những điểm mạnh và điểm yếu, rồi mới có những động thái cải thiện điểm yếu và dần dần phát triển công tác phân tích cổ phiếu.
Một điều đáng ngạc nhiên là mặc dù đánh giá là bước đầu tiên cần làm để có sự phát triển trong công tác phân tích cổ phiếu, các công ty chứng khoán tại Việt Nam lại chưa tập trung vào quá trình này, khi mà chính họ cũng chưa có những chỉ tiêu đánh giá hay hệ thống tiêu chí quyết định thế nào là một công tác phân tích chứng khoán được thực hiện đúng đắn. Trong quá trình thực tập của tôi tại công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam - VietinBankSc, tôi nhận thấy rằng, dù tầm quan trọng của việc đánh giá công tác phân tích cổ phiếu là vô cùng lớn, tuy nhiên công ty chưa có một hệ thống tiêu chí có khả năng đánh giá mức độ hiệu quả của công tác phân tích đang được tiến hành. Do đó, với sự hướng dẫn của PGS. Kiều Hữu Thiện, đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác phân tích cổ phiếu tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam” được tôi lựa chọn với mong muốn đem lại một góc nhìn mới trong việc đánh giá hiệu quả công tác phân tích cổ XI phiếu nói chung trong bối cảnh công ty VietinBankSc nói riêng, từ đó góp phần phát triển hoạt động phân tích chứng khoán và dịch vụ công ty cung cấp tới khách hàng.
Vấn đề nghiên cứu Với tầm quan trọng của hoạt động đánh giá hiệu quả của công tác phân tích cổ phiếu đối với công ty chứng khoán, khóa luận đã tổng hợp những nghiên cứu trước đó về những yếu tố cần có trong từng hoạt động nhỏ của công tác phân tích cổ phiếu, từ đó xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phân tích cổ phiếu tại công ty chứng khoán. Bên cạnh đó, dựa trên số liệu thu thập được từ Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam, khóa luận sẽ sử dụng bộ chỉ tiêu đã xây dựng nhằm đánh giá hiệu quả hiện tại của công tác phân tích cổ phiếu tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam, từ đó chỉ ra những thành tựu, tồn tại trong công tác phân tích cổ phiếu tại đây và đưa ra những giải pháp cũng như kiến nghị để nâng cao hiệu quả này. Nền tảng lý thuyết 2. Khái quát chung về công ty chứng khoán 2.
Khái niệm công ty chứng khoán Theo giáo trình thị trường chứng khoán, trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, công ty chứng khoán là “một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập”. Theo Ủy ban Chứng khoán nhà nước Việt Nam, công ty chứng khoán “là một định chế tài chính trung gian, thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”. Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì công ty chứng khoán “là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Như vậy, công ty chứng khoán được hiểu là một tổ chức tài chính trung gian được thành lập theo pháp luật, thực hiện một hoặc một số hoạt động trên thị trường chứng khoán Công ty chứng khoán có thể được chia thành nhiều loại hình.
Theo loại hình tổ chức, công ty chứng khoán có thể được thành lập dưới dạng công ty cổ phần hoặc công ty trách XII nhiệm hữu hạn, được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán, theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm 1998 của UBCKNN và luật Doanh nghiệp 2005. Theo lĩnh vực, loại hình kinh doanh, có thể chia công ty chứng khoán thành 5 loại hình chính: Công ty môi giới chứng khoán: là công ty chứng khoán chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: là công ty chứng khoán có lĩnh vực hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá. Công ty kinh doanh chứng khoán: là công ty chứng khoán chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.
Công ty trái phiếu: là công ty chứng khoán chuyên mua bán các loại trái phiếu. Công ty chứng khoán không tập trung: là các công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu trên thị trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo thị trường. Đặc điểm của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên thị trường chứng khoán – một thị trường có mức độ nhạy cảm cao và có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế. Do vậy, công ty chứng khoán thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, tức là để có thể tiến hành một hoặc một số các hoạt động trên thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện do luật pháp qui định cũng như những nguyên tắc ứng xử riêng có của ngành chứng khoán.
Điều kiện này chính là những đặc điểm khác biệt giữa hoạt động của công ty chứng khoán với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. Đặc điểm này bao gồm: Đặc điểm về vốn: Đối với công ty hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ thì yêu cầu của pháp luật về vốn cho việc thành lập công ty là không có. Tuy nhiên, đối với công ty chứng khoán lại khác, công ty chứng khoán muốn thành lập phải đáp ứng yêu cầu về mức vốn pháp định mà luật pháp qui định. Ở mỗi nước việc qui định mức vốn này có thể chung cho một công ty chứng khoán khi tiến hành đăng ký thành lập (không kể công ty chứng khoán XIII đó thực hiện một, hai hay tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán), ví dụ như Hàn quốc, mức vốn tối thiểu cho một công ty chứng khoán là 50 tỷ won, hoặc có thể qui định riêng cho từng loại hình kinh doanh cụ thể, ví dụ như Việt nam, theo luật chứng khoán có hiệu lực từ 1/1/2007, mức vốn pháp định cho hoạt động môi giới là 25 tỷ VNĐ; tự doanh là 100 tỷ VNĐ… Đây là đặc điểm quan trọng nhất để quyết định công ty chứng khoán được phép thực hiện hoạt động nào trên thị trường chứng khoán, bởi đây là đặc điểm có chức năng đảm bảo mục tiêu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.
Đặc điểm về nhân sự: Đây là lĩnh vực hoạt động có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hưởng tới đời sống kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên của công ty chứng khoán phải là người có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên về chuyên ngành ngân hàng, tài chính, thị trường chứng khoán, có tư cách đạo đức nghề nghiệp và có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp. Đặc điểm về đội ngũ lãnh đạo: Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải có kiến thức chuyên môn, có đạo đức trong kinh doanh, không vi phạm pháp luật và có trình độ quản lý. Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo ở các công ty chứng khoán cũng như vậy. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực chứng khoán, ngoài những yêu cầu trên, đội ngũ lãnh đạo ở các công ty chứng khoán còn phải có chứng chỉ hành nghề và phải có giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Và yêu cầu đối với đội ngũ lãnh đạo về trình độ học vấn và kinh nghiệm công tác phải cao hơn đội ngũ nhân viên. Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật: Khi tiến hành đăng ký hoạt động, công ty chứng khoán phải đáp ứng yêu cầu về trụ sở phù hợp cho việc kinh doanh chứng khoán. Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán là cần phải có sàn giao dịch, ở đó các nhà đầu tư tới để thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán cho mình, tiếp nhận thông tin thị trường.