Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển với dải ven biển Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh thành trọng điểm kinh tế biển: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Trải qua lịch sử địa chất khu vực Biển Đông, các thảm họa thiên tai biển luôn đặt ra thách thức lớn đối với an toàn dân sinh và cơ sở hạ tầng. Bài học từ thảm họa sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004 khiến 225.000 người thiệt mạng và sóng thần Tohoku Nhật Bản năm 2011 với 15.893 người tử vong đã nhấn mạnh tính cấp thiết của công tác đánh giá hiểm họa sóng thần.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá mức độ nguy hiểm của các kịch bản sóng thần nguồn gần phát sinh ngay sát thềm lục địa miền Trung. Khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đới đứt gãy kinh tuyến 109° kéo dài trên 1.000 km và các cấu trúc trượt lở ngầm quy mô từ 1 đến 10 tỷ m³ bùn cát dưới đáy biển. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác lập các thông số nguồn cực đại, mô phỏng số trị quá trình kích tạo và lan truyền sóng thần, từ đó tính toán độ cao sóng lớn nhất cùng thời gian truyền sóng đến dải bờ biển thuộc tọa độ từ 108°E đến 112°E và từ 9°N đến 18°N.

Nghiên cứu được hoàn thành năm 2018 tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng, giúp các cơ quan dự báo rút ngắn thời gian ban hành bản tin khẩn cấp xuống dưới 10 phút, bảo vệ an toàn cho hơn 10 triệu cư dân ven bờ và các khu kinh tế biển trọng điểm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp hệ thống lý thuyết thủy động lực học biển và cơ học đứt gãy đàn hồi để tái hiện toàn diện quá trình sinh và truyền sóng thần. Khung lý thuyết trọng tâm bao gồm:

  • Hệ phương trình nước nông phi tuyến và tuyến tính: Áp dụng phương trình bảo toàn khối lượng và phương trình Navier-Stokes tích phân theo độ sâu có tính đến lực Coriolis và ma sát đáy Manning. Phương trình mô tả chính xác sự biến đổi độ cao mặt nước và thông lượng nước trong cả hệ tọa độ cầu lẫn tọa độ Descartes.
  • Lý thuyết đứt gãy đàn hồi mặt phẳng nửa vô hạn: Dựa trên mô hình toán học của Mansinha và Smylie (1971) cùng cải tiến của Okada (1985), tính toán trường biến dạng tức thời của đáy biển dựa trên 8 tham số hình học đứt gãy gồm: chiều dài, chiều rộng, độ sâu chấn tiêu, góc phương vị, góc cắm, góc trượt, độ trượt và vị trí chấn tâm.
  • Mô hình chuyển động trượt lở khối ngầm dưới nước (Submarine Mass Failures - SMF): Áp dụng lý thuyết nửa khối elipxoit của Watts và cộng sự (2003) để biểu diễn quá trình dịch chuyển khối trượt dưới tác dụng của trọng lực, lực cản và gia tốc trọng trường 9,81 m/s².

Khung phân tích này làm sáng tỏ 4 khái niệm nền tảng: đới đứt gãy kiến tạo nguồn gần, thể tích khối trượt ngầm, thời gian truyền sóng thần đầu tiên và độ cao sóng tràn bờ cực đại.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận theo phương pháp tất định (Deterministic Approach), tập trung mô phỏng các kịch bản cực đại tiềm năng nhằm đánh giá trường hợp nguy hiểm nhất có thể xảy ra trong thực tế. Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Dữ liệu độ sâu địa hình đáy biển chi tiết trích xuất từ mô hình GEBCO với độ phân giải cao kết hợp bản đồ địa hình thềm lục địa Nam Trung Bộ.
  • Tập dữ liệu địa chấn phản xạ phân giải cao gồm 6 tuyến khảo sát chính từ VOR-93-102 đến VOR-93-112 và tuyến 83-61.
  • Danh mục động đất lịch sử khu vực Biển Đông và lân cận từ năm 1923 đến giai đoạn hiện đại.

Mô hình số trị COMCOT (Cornell Multi-grid Coupled Tsunami Model, phiên bản 1.7) viết bằng ngôn ngữ Fortran được lựa chọn làm công cụ tính toán chính. Lý do lựa chọn COMCOT là khả năng tích hợp kỹ thuật lưới lồng đa cấp (nested grid) và giải thuật sai phân hữu hạn hiện thị leap-frog hiệu quả cao. Nghiên cứu thiết lập hệ thống 3 cấp độ lưới lồng nhau:

  • Lưới cấp độ 1: Bao phủ toàn bộ khu vực Biển Đông từ 98°E đến 125°E và từ 2°S đến 25°N với độ phân giải không gian 1,0 phút góc (khoảng 1.850 m).
  • Lưới cấp độ 2: Bao phủ khu vực biển Nam Trung Bộ từ 108°E đến 112°E và từ 9°N đến 18°N với độ phân giải 0,5 phút góc (khoảng 925 m).
  • Lưới cấp độ 3: Bao phủ chi tiết các vùng bờ biển trọng điểm gồm Dung Quất, Tuy Hòa và Phan Rang với bước lưới mịn từ 0,1 đến 0,2 phút góc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng 4 kịch bản nguy hiểm cực đại (3 kịch bản động đất độ lớn Mw = 8,0 và 1 kịch bản trượt lở ngầm) mang lại những phát hiện định lượng quan trọng:

  • Kịch bản động đất đoạn 1 của đới đứt gãy 109° (từ 17°N đến 12°N, chiều dài đứt gãy 550 km): Khi động đất cực đại Mw = 8,0 xảy ra, sóng thần đầu tiên lan truyền đến dải bờ biển Dung Quất - Quảng Ngãi và Quy Nhơn chỉ trong khoảng thời gian từ 15 đến 25 phút. Độ cao sóng tính toán tại các trạm quan trắc ảo đạt mức từ 2,5 m đến trên 4,2 m.
  • Kịch bản động đất đoạn 2 của đới đứt gãy 109° (từ 12°N đến 6°N, chiều dài đứt gãy 700 km): Với độ lớn Mw = 8,0, khu vực bờ biển Tuy Hòa (Phú Yên), Nha Trang (Khánh Hòa) và Phan Rang (Ninh Thuận) ghi nhận độ cao sóng cực đại dao động từ 3,0 m đến 5,1 m. Thời gian sóng tấn công bờ biển chỉ sau khoảng 20 đến 30 phút kể từ lúc phát sinh địa chấn.
  • Kịch bản trượt lở ngầm đáy biển cực đại: Khối trượt có thể tích ước tính từ 1 đến 5 tỷ m³ tại sườn lục địa có độ dốc 20° đến 30° ngoài khơi Phú Yên - Khánh Hòa tạo ra sóng thần cục bộ cực kỳ nguy hiểm. Độ cao sóng ven bờ cục bộ tại Tuy Hòa có thể đạt tới 6,0 m đến 7,5 m, với thời gian lan truyền siêu ngắn dưới 15 phút.
  • So sánh tốc độ và thời gian cảnh báo: So với vùng nguồn xa Máng biển sâu Manila (thời gian truyền sóng từ 120 đến 150 phút), sóng thần từ đới đứt gãy kinh tuyến 109° có thời gian truyền sóng ngắn hơn từ 75% đến 85%, đặt hệ thống cảnh báo sớm vào tình trạng báo động khẩn cấp.

Thảo luận kết quả

Cơ chế trượt bằng kết hợp thành phần chờm nghịch của đới đứt gãy 109° và độ dốc đáy biển thay đổi đột ngột từ độ sâu 200 m xuống trên 1.500 m là nguyên nhân chính khuếch đại năng lượng sóng khi tiến vào vùng nước nông. Vận tốc truyền sóng ngoài khơi sâu đạt trên 700 km/h nhưng khi tiếp cận đường bờ nước nông giảm xuống còn khoảng 40 đến 60 km/h, khiến bước sóng bị nén lại và biên độ sóng dâng cao đột ngột.

Dữ liệu mô phỏng được biểu diễn trực quan qua hệ thống biểu đồ biến trình mực nước theo thời gian (marigram) tại hơn 20 trạm đo ảo ven bờ và các bản đồ phân bố trường độ cao sóng cực đại 2D. Kết quả của luận văn tương đồng với các công trình nghiên cứu của các chuyên gia địa chấn hàng đầu Việt Nam giai đoạn 2009-2015, đồng thời làm rõ hơn tác động hiểm họa từ nguồn trượt lở đáy biển cục bộ - một yếu tố trước đây thường bị đánh giá thấp so với động đất kiến tạo.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận khoa học về thời gian lan truyền ngắn và độ cao sóng nguy hiểm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp công nghệ và quản trị rủi ro:

  • Tích hợp cơ sở dữ liệu kịch bản mô phỏng vào hệ thống cảnh báo thời gian thực: Viện Vật lý Địa cầu và Trung tâm Báo tin Động đất và Cảnh báo Sóng thần cần đưa bộ thông số 4 kịch bản cực đại vào phần mềm nghiệp vụ trực ban trong vòng 12 tháng tới, đảm bảo tự động kích hoạt kịch bản tương ứng trong vòng 3 đến 5 phút sau khi ghi nhận chấn động Mw ≥ 6,5.
  • Nâng cấp mạng lưới trạm quan trắc địa chấn và hải văn chuyên dụng: Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cần phê duyệt đề án lắp đặt thêm từ 6 đến 8 trạm đo mực nước biển tự động kết hợp cảm biến áp suất đáy sâu tại khu vực biển Nam Trung Bộ trong lộ trình 2026-2028.
  • Rà soát quy hoạch đô thị và công trình ven biển 8 tỉnh Nam Trung Bộ: Ủy ban nhân dân các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận cần chỉ đạo Sở Xây dựng thiết lập hành lang an toàn sóng thần cho các khu kinh tế ven biển, cảng biển nước sâu và khu dân cư, hoàn thành việc cắm mốc cảnh báo nguy hiểm trước năm 2028.
  • Định kỳ tổ chức diễn tập sơ tán cộng đồng dân cư ven biển: Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự và Phòng chống thiên tai các địa phương cần triển khai kế hoạch diễn tập hàng năm, đặt mục tiêu trên 85% người dân vùng nguy cơ nắm vững lộ trình di tản lên vùng đất cao trên 10 m trong thời gian dưới 15 phút.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, phục vụ thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Hải dương học, Địa vật lý và Quản lý thiên tai: Tài liệu cung cấp cơ sở lý thuyết hoàn chỉnh về mô hình COMCOT, giải thuật SMF và quy trình thiết lập lưới lồng đa cấp phục vụ đào tạo sau đại học và nghiên cứu chuyên sâu.
  • Cán bộ kỹ thuật tại Trung tâm Báo tin Động đất và Cảnh báo Sóng thần: Cung cấp tập bản đồ kịch bản chuẩn hóa và các thông số truyền sóng để đối chiếu nghiệp vụ cảnh báo trực ban 24/7 khi có biến động địa chấn ngoài khơi.
  • Kỹ sư quy hoạch xây dựng công trình thủy, cảng biển và năng lượng ven biển: Tài liệu cung cấp số liệu tải trọng sóng cực đại (2,5 m đến 7,5 m) phục vụ tính toán kết cấu đê chắn sóng, âu thuyền và các nhà máy công nghiệp ven bờ.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban chỉ huy phòng chống thiên tai cấp tỉnh: Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy để xây dựng phương án di dời dân cư khẩn cấp và xây dựng bản đồ rủi ro ngập lụt ven bờ.

Câu hỏi thường gặp

  • Đới đứt gãy kinh tuyến 109° nằm ở đâu và có quy mô như thế nào? Đới đứt gãy kinh tuyến 109° kéo dài từ phía nam đảo Hải Nam dọc theo sườn lục địa Nam Trung Bộ Việt Nam từ vĩ độ 17°N xuống 6°N với tổng chiều dài trên 1.000 km và bề rộng từ 50 đến 60 km. Cấu trúc địa chất này được chia thành 2 đoạn chính bởi đới khâu Tuy Hòa.

  • Vì sao sóng thần phát sinh từ nguồn gần 109° nguy hiểm hơn nguồn xa Manila? Khoảng cách từ đới 109° đến bờ biển chỉ từ 100 đến 200 km, khiến thời gian sóng tấn công bờ biển chỉ mất từ 15 đến 30 phút, ngắn hơn nhiều so với thời gian trên 2 giờ từ Máng biển sâu Manila. Điều này làm giảm đáng kể thời gian sơ tán của cộng đồng.

  • Mô hình số trị COMCOT mô phỏng sóng thần dựa trên nguyên lý nào? Mô hình COMCOT sử dụng hệ phương trình nước nông tuyến tính và phi tuyến có xét đến lực Coriolis và ma sát đáy Manning. Mô hình tích hợp giải thuật biến dạng đàn hồi Okada và chuyển động khối trượt elipxoit SMF để tái tạo quá trình sinh và lan truyền sóng.

  • Hiện tượng trượt lở ngầm đáy biển Nam Trung Bộ có thể tạo ra sóng cao bao nhiêu? Theo kịch bản tính toán với thể tích khối trượt từ 1 đến 5 tỷ m³ tại vùng biển ngoài khơi Phú Yên - Khánh Hòa, độ cao sóng thần cực đại cục bộ có thể đạt từ 6,0 m đến 7,5 m, tấn công trực diện dải bờ biển Tuy Hòa trong thời gian dưới 15 phút.

  • Các dấu hiệu tự nhiên nhận biết sóng thần sắp xuất hiện tại bãi biển là gì? Khi nhận thấy mặt đất rung lắc mạnh không đứng vững được, kèm theo hiện tượng nước biển rút nhanh bất thường làm trơ đáy biển hoặc xuất hiện âm thanh gầm rú lớn như động cơ máy bay phản lực từ ngoài khơi, người dân cần lập tức di tản lên vùng đất cao.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập và mô phỏng thành công 4 kịch bản sóng thần cực đại (3 kịch bản động đất Mw = 8,0 và 1 kịch bản trượt lở ngầm) cho dải ven biển Nam Trung Bộ.
  • Thời gian truyền sóng thần từ đới đứt gãy kinh tuyến 109° đến bờ biển dao động từ 15 đến 30 phút với độ cao sóng lớn nhất từ 2,5 m đến 5,1 m.
  • Kịch bản trượt lở ngầm thể tích lớn tạo ra độ cao sóng cục bộ nguy hiểm nhất, đạt mức cực đại lên tới 7,5 m tại khu vực bờ biển Tuy Hòa - Phú Yên.
  • Mô hình số trị COMCOT với hệ thống 3 cấp độ lưới lồng nhau đã chứng minh độ chính xác và tính ổn định cao trong việc đánh giá hiểm họa thiên tai biển.
  • Công trình đóng góp nền tảng dữ liệu khoa học thiết yếu phục vụ công tác nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và quy hoạch an toàn ven biển giai đoạn 2026-2030.

Hãy chia sẻ bài viết nghiên cứu chuyên sâu này đến cộng đồng khoa học và các nhà quản lý rủi ro thiên tai ven biển nhằm chung tay nâng cao năng lực ứng phó trước thảm họa sóng thần tại Việt Nam.