Đặt vấn đề An Giang là một tỉnh đầu nguồn lưu vực sông Cửu Long. Với nguồn nước ngọt phong phú, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ được phù sa bồi đắp hàng năm đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi. Nhưng lại phải thường xuyên đối phó với thiên tai, lũ lụt hàng năm, nhất là những năm lũ lớn đã gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng và tài sản của nhân dân, đặc biệt là gây nhiều trở ngại cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Là một phần của tỉnh An Giang nên thành phố Long Xuyên cũng chịu ảnh hưởng của nước lũ hàng năm đổ về từ tháng 7 đến tháng 11 dương lịch.
Có tổng diện tích đất nông nghiệp là 6.449 ha, nước lũ đã làm phần lớn đất đai của thành phố bị ngập. Nó ảnh hưởng phần nào đến đời sống và sản xuất của nông dân trên địa bàn. Nhưng ngày nay, lũ lụt đã không còn là trở ngại lớn đối với đại bộ phận người dân sống ở vùng nông thôn bởi họ đã biết tận dụng những lợi thế do lũ mang lại. Bên cạnh các ngành nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản gắn liền với mùa nước lũ, song song đó họ cũng tiến hành các hoạt động trồng trọt, tạo nên sự đa dạng các loại cây trồng ngay trong mùa nước nổi.
Để biết được những thuận lợi, khó khăn cũng như hiệu quả kinh tế của một số mô hình canh tác trong mùa lũ nên tôi tiến hành đề tài “Một số mô hình trồng trọt trong mùa lũ tại thành phố Long Xuyên năm 2004”. Qua đó, có thể đề xuất những mô hình canh tác có hiệu quả, giúp nông dân có thêm cơ hội lựa chọn cho mình phương án sản xuất phù hợp, tạo ra sản phẩm đem lại lợi nhuận cao và tăng nguồn thu nhập trong mùa nước nổi. Mục tiêu nghiên cứu - Tổng kết một số mô hình canh tác trong mùa lũ năm 2004. - Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình này.
- Đề xuất những phương án sản xuất và mô hình canh tác có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao cho nông dân. 13 Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Đặc điểm tự nhiên của thành phố Long Xuyên Thành phố Long Xuyên có diện tích tự nhiên là 106,87 km2, phía Tây Bắc giáp với huyện Châu Thành; Đông Bắc giáp huyện Chợ Mới; Đông Nam giáp huyện Lấp Vò (tỉnh Đồng Tháp); Nam giáp huyện Thốt Nốt (tỉnh Cần Thơ); Tây giáp huyện Thoại Sơn. Gồm 9 phường là Bình Đức, Bình Khánh, Mỹ Bình, Mỹ Long, Mỹ Xuyên, Mỹ Phước, Mỹ Quý, Mỹ Thới, Mỹ Thạnh và 3 xã là các xã Mỹ Khánh, Mỹ Hòa Hưng, Mỹ Hòa (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003).
Có khí hậu nhiệt đới gió mùa (một mùa mưa và một mùa nắng) với nền nhiệt cao và ổn định. Nhiệt độ trung bình năm của thành phố Long Xuyên là 28,7 0C, nhiệt độ cao nhất xuất hiện vào tháng 4 lên đến 30,4 0C và nhiệt độ thấp nhất là 21,7 0C xuất hiện vào tháng 1. Số giờ nắng trong ngày cao (bình quân từ 7 đến 10 giờ/ngày) là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu ánh sáng cho nhiều vụ sản xuất trong năm của thành phố (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Mùa mưa ở Long Xuyên bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, tổng lượng mưa trong mùa mưa đạt đến 1.306 mm, nhưng trong mùa khô thì tổng lượng mưa chỉ có 94,3 mm (từ tháng 12 đến tháng 4).
Cả số ngày mưa và tổng số lượng mưa đều tập trung nhiều vào mùa mưa với tỷ trọng khoảng 93,27%. Sự phân bố lượng mưa trung bình giữa các tháng ở thành phố Long Xuyên khá điều hòa nên cường độ mưa không lớn lắm. Do lượng mưa trong mùa mưa lớn, lại tập trung vào mùa nước lũ của sông MêKông dồn về hạ lưu đã tạo ra tình trạng ngập lụt. Nó chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống người dân, nhất là đối với khu vực nông thôn có đời sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003).
Đối với tình hình thủy văn thì trên địa bàn thành phố Long Xuyên do có chế độ bán nhật triều, với hai lần triều lên và hai lần triều xuống trong ngày chiếm ưu thế hơn so với chế độ nhật triều nên rất có lợi cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp. Nhưng lại bất lợi cho việc tiêu nước trong mùa lũ, đặc biệt lúc lũ lớn gặp triều cường (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Hiện trạng sử dụng đất Toàn thành phố có tổng diện tích 10.687 ha, trong đó đất nông nghiệp là 6.449 ha; chiếm 60,34% tổng diện tích đất của thành phố; đất chuyên dùng 1.162 ha, chiếm 10,87%; đất ở có 1.905 ha, chiếm 17,83% và đất khác có 1. Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp ở các phường, xã được phân bố như sau: nhiều nhất là phường Mỹ Thới có 1.523 ha (trong tổng số 2.000 ha đất của phường) và ít nhất là phường Mỹ Phước có 189 ha.
Còn lại là các xã Mỹ Hoà Hưng có 765 ha, Mỹ Khánh có 641 ha và phường Mỹ Quý có 201 ha diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp (Phòng thống kê thành phố Long Xuyên, 2004). Tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Long Xuyên Theo Phòng kinh tế thành phố Long Xuyên (2004), lũ năm 2003 nhỏ, rút sớm nên thuận lợi cho xuống giống vụ Đông Xuân 2003 – 2004; lũ năm 2004 tuy lớn so với năm 2003 nhưng chỉ ở mức trung bình. Do lũ về muộn, mực nước biến động nhỏ, nên không ảnh hưởng nhiều cho sản xuất nông nghiệp; lúa được giá và các chính sách ưu đãi đã được triển khai hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất của nông dân. Bên cạnh đó, nhờ sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, sự nổ lực của đội ngũ cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp và nông dân trong việc đẩy mạnh sản xuất và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Hoạt động đó đã góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi, tăng thu nhập trên một hecta diện tích đất sản xuất cho nông dân. Trong lĩnh vực trồng trọt, có tổng diện tích gieo trồng các loại cây cả năm 2004 trên địa bàn thành phố Long Xuyên là 13.103,94 ha, trong đó diện tích trồng lúa là 11.759,54 ha và diện tích trồng các loại cây màu là 1. Trong vụ Đông Xuân, nông dân đã tập trung tổ chức gia cố đê bao, bơm nước nên thời gian xuống giống sớm, với diện tích là 5.747,17 ha; năng suất đạt 6,94 tấn/ha. Trong vụ Hè Thu, do vụ lúa Đông Xuân thu hoạch sớm, nông dân có thời gian cày ải, phơi đất, vệ sinh đồng ruộng.
Bên cạnh đó còn nhờ các yếu tố thuận lợi về thời 15 tiết, thời vụ, nông dân sử dụng các giống lúa chất lượng cao và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên năng suất lúa đạt được 5,17 tấn/ha. Bảng 1: Hiệu quả sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu trong năm 2004 tại thành phố Long Xuyên, An Giang Chỉ tiêu Vụ Đông Xuân Vụ Hè Thu Diện tích (ha) 5. Đặc biệt trong mùa nước nổi năm 2004, do tác động của các lớp đào tạo nghề ở các phường xã đã phát triển mạnh nghề trồng nấm rơm; tận dụng 42,3 ha diện tích đất bờ và sân phơi. Với những loại cây trồng trên mặt nước, một số hộ nông dân tận dụng được 23,1 ha diện tích mặt nước ở những vùng lung, trũng, bãi bồi đã trồng các loại ấu, rau nhút, sen,…(trong đó ấu: 4,5 ha; rau nhút: 14,3 ha và sen: 4,1 ha).
16 Bảng 2: Diện tích gieo trồng cây màu năm 2004 tại thành phố Long Xuyên, An Giang Đơn vị tính: Ha Diện tích Loại cây trồng Vụ Đông Xuân Vụ Hè Thu Màu lương thực 8,70 4,70 *Bắp thường 7,90 2,70 * Khoai lang 0,80 2,00 Màu thực phẩm 324,08 442,20 * Đậu xanh 20,38 8,10 * Rau dưa các loại 301,00 428,20 * Dưa hấu 2,7 5,90 Màu công nghiệp + khác 43,62 282,50 * Đậu nành 10,10 134,00 * Mè 0,22 116,40 * Khác 33,30 32,10 Tổng diện tích gieo trồng 376,40 729,40 Trong đó cây màu trên đất lúa 6,80 298,20 (Nguồn: Phòng kinh tế thành phố Long Xuyên, 2004) 2. Một số mô hình canh tác trong mùa lũ Theo kết quả khảo sát ở An Giang và Đồng Tháp của Nguyễn Tấn Khuyên (2004) cho thấy, hoạt động trồng trọt trong mùa nước và trong địa bàn ngập sâu chỉ mới bắt đầu và bước đầu đã đem lại lợi nhuận bổ sung cho bộ phận nông dân, song đây chỉ mới dừng lại ở dạng mô hình nhỏ và sản xuất còn bấp bênh. Trong mùa nước lũ năm 2003, nông dân tổ chức trồng các loại hoa màu ở nơi đất cao, kiểm soát nước tốt với mức đầu tư 1,5 – 2 triệu đồng/công thu lãi 1 – 1,2 triệu đồng/vụ, cách thức này thích hợp cho các hộ nghèo ít đất. Sản suất lúa vụ 3 ở An Giang với năng suất bình quân đạt 4,7 tấn/ha, sản lượng đạt 297 ngàn tấn chiếm 12,64% sản lượng của cả năm.
Hoạt động tuy mang lại thu nhập bổ sung khá lớn cho nông dân, nhưng lại đòi hỏi sự đầu tư lớn của xã hội (đê bao khép kín, kiểm soát lũ triệt để) nên đã tăng chi phí cho nông dân. Đối với các loại cây thủy sinh như: sen, ấu, rau muống ruộng,… được bố trí trên các mặt nước ao, lòng hồ đất trũng, với mức đầu tư thấp khoảng 1 triệu đồng cho một công, đem lại thu nhập cho nông dân từ 1,3 đến 1,5 triệu đồng/vụ. 17 Tại huyện Tân Châu thuộc tỉnh An Giang, phần lớn nông dân chủ yếu tập trung vào trồng bắp lai, ngoài ra, một vài hộ trồng cải và đậu. Đối với bắp lai do giá cả thường ổn định và dễ trồng nên có thể trồng được trên diện tích lớn (đôi khi có thể trồng đến 1 ha/hộ), nhưng lợi nhuận không cao và thời gian trồng kéo dài khoảng 90 ngày/vụ.
Do đó, chỉ có thể trồng 3 vụ/năm, lợi nhuận giữa các vụ không chênh lệch nhau nhiều, đạt 873,55 ngàn đồng/công (vụ 1), 976,25 ngàn đồng/công (vụ 2) và 658,93 ngàn đồng/công ở vụ 3. Tổng lợi nhuận 3 vụ đạt 2,51 triệu đồng/công. Trước khi đê bao vùng này chỉ trồng 2 vụ/năm. Như vậy, bao đê đã nâng số vụ canh tác lên cũng là tăng nguồn thu nhập của các hộ nông dân (Dương Văn Nhã, 2004).
Tại xã Kiến Thành thuộc huyện Chợ Mới, mô hình sản xuất chủ yếu trong mùa lũ là trồng lúa vụ 3.