Đặt vấn đề Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sản xuất hàng hoá. Trong gần hai thế kỷ qua, nền nông nghiệp thế giới đã có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau. Cho đến nay, một số nơi các hình thức sản xuất theo mô hình tập thể, và quốc doanh, cũng như xí nghiệp tư bản nông nghiệp tập trung quy mô lớn, không tỏ ra hiệu quả [3]. Trong khi đó, hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại phù hợp với đặc thù của nông nghiệp nên đạt hiệu quả cao, và ngày càng phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới.
So với nền kinh tế hộ nông dân thì kinh tế trang trại là một bước phát triển của kinh tế hàng hoá [11]. Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng lớn và mang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu khách quan. Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp rất lớn khối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc tế, với sản lượng và kim nghạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực và ổn định, thì sự đóng góp của các trang trại là rất lớn, không những đem lại lợi nhuận cho trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của những người lao động trong các trang trại. Việt Nam tham gia tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nước ta nói chung, ngành nông nghiệp nói riêng.
Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, có hiệu quả cao đã được hình thành từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Kinh tế trang trại đã tạo ra cho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hóa chứ không như các hộ tiểu nông sản xuất tự cung tự cấp. Loại hình này cũng đã và đang hình thành ở nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây, là hình thức tổ chức kinh tế khơi dậy và phát huy những tiềm năng sẵn có, thích hợp trong việc cơ giới hóa, công nghiệp hóa và áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp. h 2 Sự phát triển của trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hoá, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, tạo ra sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, nhằm phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng [9]. Hiện nay, trên địa bàn Thị xã Phổ Yên có trên 90 trang trại chăn nuôi đạt tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và PTNT (tăng 10 trang trại so với năm 2016). Trong đó, có 60 trang trại chăn nuôi lợn, còn lại là chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi tổng hợp. Các trang trại hiện có tổng số vốn đầu tư khoảng trên 150 tỷ đồng, thu nhập trung bình mỗi trang trại đạt từ 100-150 triệu đồng/năm.
Để khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung, những năm gần đây, Thị xã Phổ Yên đã triển khai nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại được tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi của ngân hàng. Đồng thời, tiến hành quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung gắn với quy hoạch nông thôn mới; đẩy mạnh xây dựng mối liên kết liên doanh giữa các hộ chăn nuôi với nhau và giữa hộ chăn nuôi với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản trên địa bàn; hỗ trợ kinh phí, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật giúp các chủ trang trại mở rộng sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm để phát huy hiệu quả trong chăn nuôi… Bên cạnh đó, thị xã cũng tăng cường tuyên truyền, vận động và hướng dẫn các hộ chăn nuôi, nhất là các cơ sở chăn nuôi lớn phải xây dựng hầm biôga, đệm lót sinh học và các biện pháp kỹ thuật khác nhằm bảo đảm vấn đề môi trường. Phấn đấu tăng tổng đàn gia súc, gia cầm và hình thành một số trang trại kiểu mẫu về hiệu quả sản xuất, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường [20]. h 3 Vì vậy tôi chọn đề tài “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp Xã Phúc Thuận – Thị xã Phổ Yên – Tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu cụ thể 1. Về chuyên môn - Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. - Tìm hiểu kết quả kinh doanh chăn nuôi lợn thịt của trang trại. - Biết cách làm một số công việc tại trang trại.
- Đưa ra được những điểm mạnh, điểm yếu cùng những cơ hội và thách thức của trang trại. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi của trang trại. Về thái độ - Luôn vui vẻ, hòa đồng với mọi người. - Nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc.
- Tuân thủ theo các quy định của trang trại đề ra. Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc - Hoàn thành tốt các công việc được giao. - Linh hoạt và sáng tạo trong công việc. - Rèn luyện kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất trong thực tế.
- Tích cực học hỏi kinh nghiệm làm việc từ mọi người xung quanh. Nội dung và phương pháp thực hiện 1. Nội dung thực tập - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu. - Tìm hiểu mô hình tổ chức sản xuất của trang trại Ngô Hiệp trên địa bàn xã Phúc Thuận.
- Tìm hiểu kết quả kinh doanh của trang trại. - Tham gia một số công việc tại trang trại. - Phân tích những thuận lợi, khó khăn và cơ hội, thách thức trong chăn nuôi lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp. h 4 - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp xã Phúc Thuận, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Phương pháp thực hiện 1. Phương pháp thu thập thông tin Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp - Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu có sẵn thường có trong các báo cáo khuyến nông hoặc các tài liệu đã công bố. Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng. - Trong phạm vi đề tài tôi thu thập các số liệu đã được công bố liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại UBND xã Phúc Thuận, xóm Đèo Nứa và trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp.
+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Phúc Thuận. + Số liệu thống kê của UBND xã thu thập ở trên báo, trên internet liên quan tới phát triển mô hình kinh tế trang trại. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp + Quan sát trực tiếp Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật, sự kiện với các mối quan hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó. Quan sát trực tiếp cũng là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địa phương.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thực trạng công tác tổ chức của chủ trang trại Ngô Hiệp. + Điều tra trực tiếp chủ trang trại Phiếu điều tra có đủ thông tin về trang trại, những thông tin về tình hình cơ bản của trang trại như: Họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại, trình độ văn hóa, loại hình trang trại, số nhân khẩu, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất. Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: Tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị. Những thông tin về ý h 5 kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn của trang trại.
Các yếu tố sản xuất như: Vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường. + Điều tra cán bộ Công ty cổ phần Greenfeed Phiếu điều tra có đủ những thông tin cơ bản như: Họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại liên hệ, trình độ văn hóa, thời gian công tác và chức vụ tại Công ty. Những thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Greenfeed như: Yếu tố đầu vào, đầu ra Công ty cung cấp, hỗ trợ cho trang trại. + Tiếp cận có sự tham gia Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại như: Dọn dẹp, vệ sinh chuồng nuôi, chăm sóc lợn, kiểm cám, kiểm thuốc từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà trang trại gặp phải trong công tác phòng dịch cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại.
+ Thảo luận Cùng với chủ trang trại, cán bộ kỹ thuật thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại trang trại đang gặp phải như: Vốn, lao động, thị trường, chính sách của nhà nước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của trang trại trong những năm tới. Phương pháp phân tích số liệu - Phương pháp thống kê: Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá so sánh và rút ra những kết luận, nhằm đưa ra các giải pháp có tính khoa học cũng như thực tế trong việc phát triển kinh tế trang trại. - Phương pháp chuyên khảo: Dùng để thu thập và lựa chọn các thông tin, tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Thông qua việc nghiên cứu để lựa chọn, kế thừa những gì tiến bộ vận dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả sản xuất của trang trại.