Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái luận về các mô hình quản trị công ty cổ phần 1. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của công ty cổ phần Có lẽ khó có thể tưởng tượng được rằng trong một nền kinh tế thị trường tại một nước nào đó lại vắng bóng công ty cổ phần. Để tán dương vai trò, vị trí và ý nghĩa của công ty cổ phần trong kinh tế thị trường người ta vẫn nói công ty cổ phần cùng với công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng nên chế độ tư bản ở các quốc gia Âu, Mỹ [6, tr.
Công ty cổ phần là một loại hình công ty hoàn bị nhất xét từ giác độ tổ chức kinh doanh, hiệu quả kinh tế, khả năng huy động vốn và tính xã hội hóa… Nó là một loại hình công ty phổ biến hiện nay, có sức lan tỏa rộng khắp, kể cả ngoài phạm vi một quốc gia, và có qui mô kinh doanh từ nhỏ cho tới rất lớn. Có những công ty có tính cách toàn cầu và có lượng cổ đông lên tới vài triệu người ở rải rác khắp nơi trên thế giới. Ví dụ như công ty IBM có hơn 3 triệu cổ đông. Công ty cổ phần hiện nay được tổ chức để kinh doanh đủ loại ngành nghề trừ một số ngành nghề mà đòi hỏi nhân thân của thành viên là một yếu tố quan trọng của kinh doanh như dịch vụ luật sư, khám chữa bệnh… Công ty cổ phần manh nha từ thời La Mã cổ đại, song chỉ phát triển từ giai đoạn đầu của nền kinh tế công nghiệp khi mà nhà tư bản đòi hỏi mở rộng kinh doanh cần có nguồn vốn lớn hơn, và muốn hạn chế rủi ro của mình (có nghĩa là không muốn chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty), và không cần thiết phải trực tiếp tham gia điều hành công ty, đồng thời mong muốn dễ dàng chuyển nhượng được phần góp vốn của mình.
Công ty cổ phần là loại hình công ty đáp ứng được nhiều nhất các đòi hỏi này, khác với các loại hình công ty truyền thống của thương nhân như công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TS Ngô Huy Cương cho rằng: Khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn hảo về công ty cổ phần mà có thể làm thoả mãn mọi người, vì vậy cách thức tốt nhất để nắm được khái niệm về công ty cổ phần là nêu và phân tích các đặc điểm của nó [3, tr. Ông quan niệm công ty cổ phần có bốn đặc điểm là: (1) công ty cổ phần là loại công ty đối vốn, thuộc chế độ trách nhiệm hữu hạn; (2) công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức quản trị chặt chẽ mà trong đó mỗi cơ quan đều có quyền hạn riêng; (3) công ty cổ phần được phép phát hành chứng khoán; và (4) các thành viên hay những người quản trị công ty đều không có tư cách thương nhân và bản thân công ty mới là thương nhân [3, tr.
Trên thế giới, việc nhận thức về công ty cổ phần khá đồng nhất. Tuy nhiên khi giới thiệu các đặc điểm chủ yếu của công ty cổ phần thì đôi khi chúng ta thấy có đôi điểm khác biệt bởi chúng được khái quát không giống nhau. Chẳng hạn Robert Charles Clark cũng quan niệm công ty cổ phần có bốn đặc điểm cơ bản nhưng không hoàn toàn trùng với bốn đặc điểm nêu trên. Các đặc điểm đó bao gồm: Tính trách nhiệm hữu hạn của cổ đông; phần góp vốn vào công ty có thể dễ dàng chuyển nhượng; công ty có tư cách pháp nhân độc lập (tách khỏi những người đã thành lập nó, liên tục tồn tại, có mục đích riêng…); và công ty được quản lý tập trung [11, tr.
Các đặc điểm của công ty cổ phần, dù được diễn giải như thế nào, bao giờ cũng có đặc điểm liên quan tới quản trị công ty. Vì vậy có thể coi quản trị công ty cổ phần có vai trò quan trọng và là một đặc trưng để phân biệt giữa công ty cổ phần và các hình thức công ty khác. Do số lượng của cổ đông của công ty cổ phần lên tới hàng triệu người, nên khó có thể quản lý công ty cổ phần theo cách truyền thống là thành viên hoặc các thành viên của công ty trực tiếp quản trị công ty như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn. Chẳng hạn một công ty cổ phần có khoảng 100.000 cổ đông và tất cả các cổ đông này đều tham gia quản trị trực tiếp công ty thì 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rõ ràng công ty không thể hoạt động được.
Vì vậy đối với công ty cổ phần người ta thường phân tách khá rạch ròi giữa chức năng của chủ sở hữu công ty và chức năng của người quản lý, điều hành công ty, có nghĩa là chuyên môn hóa hoạt động của các bộ máy trong công ty. Từ đó các mô hình quản trị công ty cổ phần ra đời hoàn toàn liên quan tới sự phân tách các chức năng này. Tuy nhiên để xem xét bản chất pháp lý của các mô hình quản trị công ty cổ phần khác nhau, cần phải xem xét bản chất pháp lý của công ty cổ phần. TS Ngô Huy Cương, công ty có bản chất là một hành vi pháp lý, có nghĩa là công ty một thành viên là một hành vi pháp lý đơn phương, còn công ty nhiều thành viên là một hợp đồng [4, tr.
Như vậy công ty cổ phần có bản chất pháp lý là một hợp đồng. Chính vì vậy cơ cấu quản trị công ty cổ phần là một hợp đồng. Thông thường nó được qui định trong Điều lệ công ty theo các qui định của pháp luật. Nhiều quan niệm cho rằng quản trị công ty cổ phần do pháp luật qui định.
TS Ngô Huy Cương giải thích: công ty ra đời bởi ý chí đơn phương hoặc bởi sự thống nhất ý chí của các sở hữu chủ của công ty, còn pháp luật chỉ có vai trò hỗ trợ chứ pháp luật không thể buộc ai đó phải góp vốn để thành lập công ty nếu họ không muốn [3, tr. Bởi thế theo logic quản trị công ty là hệ quả của hợp đồng hay mang bản chất hợp đồng, tuy nhiên phải theo các qui định chặt chẽ của pháp luật để bảo đảm cho công ty hoạt động có hiệu quả như trên đã nói, đồng thời bảo vệ cho quyền lợi của các cổ đông. Khái niệm và vai trò của quản trị công ty công ty cổ phần Quản trị công ty cổ phần có vai trò rất quan trọng bởi một số lý do xuất phát từ sự khác biệt về hình thức công ty này so với các hình thức công ty khác như công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Các lý do đó bao gồm: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, trong công ty cổ phần có sự tách bạch giữa chức năng của chủ sở hữu và chức năng của quản trị công ty.
Các cổ đông trong công ty cổ phần thường không trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh thường nhật của công ty. Do đó có thể dẫn tới tình huống có vấn đề là người quản trị điều hành công ty trái với những lợi ích của chủ sở hữu công ty. Người điều hành có thể theo đuổi các lợi ích riêng của mình, có thể tiến hành các giao dịch gây thiệt hai cho công ty. Thứ hai, giữa các chủ sở hữu của công ty và người quản trị công ty có sự bất cân xứng về thông tin.
Rõ ràng các cổ đông (chủ sở hữu công ty) không có được những thông tin trực tiếp, chính xác như những người tham gia vào quản trị công ty bởi họ là những người làm việc trực tiếp hàng ngày liên quan tới hoạt động kinh doanh của công ty. Sự bất cân đối về thông tin này có thể dẫn tới sự lạm quyền của người quản trị và dẫn tới các thiệt hại của các cổ đông. Thứ ba, những ngành nghề kinh doanh hiện đại và việc mở rộng qui mô kinh doanh, cũng như nhu cầu gọi vốn lớn đòi hỏi sự chuyên môn hóa sâu sắc và tính công khai, minh bạch trong quản trị công ty cổ phần. Quản trị công ty cổ phần tốt sẽ đảm bảo được lợi ích cho các cổ đông và tất cả những người liên quan, đồng thời tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh.
Quản trị công ty cổ phần tốt có thể làm tăng hiệu quả vốn đầu tư, làm tăng lợi nhuận của cổ đông, làm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh và sẽ làm tăng giá của công ty (cổ phần). Yêu cầu về tính minh bạch trong các giao dịch của công ty, trong chế độ kế toán và kiểm toán, làm hạn chế những giao dịch không lành mạnh. Điều này góp phần làm tăng tính cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ, lành mạnh hóa thị trường vốn, khuyến khích các hoạt động đầu tư. Quản trị tốt góp phần giúp công ty xây dựng chiến lược, chính sách minh bạch và rõ ràng.
Các nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng, các quốc gia có hệ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống quản trị công ty cổ phần bảo vệ cổ đông thiểu số một cách thích đáng, thì có cơ may huy động được các nguồn vốn lớn và ổn định. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị công ty cổ phần. Có quan niệm rằng: “Xét ở góc độ toàn diện, quá trình quản lý, điều hành công ty cổ phần bao gồm tất cả những ảnh hưởng liên quan đến quá trình ra quyết định của công ty. Đó không chỉ bao gồm quyền kiểm soát của các cổ đông, mà còn là những hợp đồng và quyền nộp xin đơn phá sản của các chủ nợ, những cam kết với người lao động, các khách hàng và nhà cung ứng, các quy định của cơ quan nhà nước ban hành, những đạo luật do cơ quan nhà nước thông qua.
Ngoài ra, các quyết định của công ty còn chịu ảnh hưởng lớn từ sự cạnh tranh ngoài thị trường nơi nó hoạt động” [13, tr. Đây có thể xem là một định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty cổ phần bao trùm hầu hết các mối quan hệ công ty. Có định nghĩa hẹp hơn cho rằng: Quản trị công ty cổ phần được hiểu là “các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, các cổ đông và những chủ thể khác có liên quan của công ty.