Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Các nghiên cứu về đào tạo nhân tài ở nước ngoài tập trung vào hướng nghiên cứu phát triển trí tuệ cho người học. Có thể khẳng định rằng: trí tuệ đang là vấn đề được tranh luận sôi nổi trong khoa học giáo dục của nhiều nước trên thế giới.
Có nhiều khuynh hướng và trường phái khác nhau trong việc giải quyết trí tuệ và nghiên cứu phát triển trí tuệ [76, tr 85]. Theo Kail và Pellerinot (1985), có 2 lí do để tạo nên điều này. Thứ nhất, có nhiều cách để phân tích một số liệu; thứ hai, các số liệu trong nghiên cứu riêng rẽ là khác nhau. Các nhà triết học cổ Hy Lạp như Platon, Aristote đã đề cập đến thuật ngữ “năng lực tâm trí”.
Nhà toán học Thomas Aquinas (1225-1274) đã mô tả năng lực tâm trí như là năng lực khám phá ra những sự giống và khác nhau hay đó là năng lực hợp nhất và tách biệt giữa các sự vật. Nhưng phải mãi đến sau năm 1850 thì việc nghiên cứu về trí tuệ mới thực sự bắt đầu. Vào thời gian này, nhà toán học người Anh Herbert Spencer (1822-1911) đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ trí tuệ trong các nghiên cứu của mình. Trên thế giới, nhiều nước quan niệm : Học sinh giỏi là học sinh có năng lực hoàn thành xuất sắc công việc trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, quản lý xã hội, kinh doanh; những học sinh này cần giáo dục đặc biệt, không theo những trường, lớp thông thường nhằm phát triển hết năng lực của họ.
Việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng đã có từ lâu ở nhiều nước trên thế giới. Trung Quốc từ đời nhà Đường (618 sau Công Nguyên) những trẻ em có tài năng đặc biệt được mời đến sân rồng để học tập và được giáo dục bằng những hình thức đặc biệt. Châu Âu, trong suốt thời Phục hưng, những người có tài năng về nghệ thuật, kiến trúc, văn học. đều được Nhà nước và các tổ chức cá nhân bảo trợ, giúp đỡ.
Nước Mỹ, đến thế kỷ XIX mới chú ý tới vấn đề giáo dục học sinh giỏi và phát triển tài năng, tuy nhiên, đến 1920 đã có 2/3 các thành phố lớn thực hiện các chương trình giáo dục, phát triển tài năng và đến năm 2002 có 38 bang có luật về học sinh giỏi, có 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc giáo dục, phát triển tài năng. Nước Anh thành lập Viện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hàn Lâm Quốc gia về phát triển tài năng trẻ và Hiệp hội Quốc gia về giáo dục học sinh giỏi. New Zealand từ năm 2001, Nhà nước đã phê chuẩn Kế hoạch phát triển Chiến lược học sinh giỏi. Hàn Quốc, trong chương trình giáo dục phổ thông, có chương trình đặc biệt dành cho học sinh giỏi; đến năm 1994, có 57/174 cơ sở giáo dục thực hiện chương trình đặc biệt dành cho học sinh giỏi.
Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu về vấn đề phát triển năng khiếu, tài năng, đào tạo nhân tài cho quốc gia. Các nghiên cứu về vấn đề này có thể được khái quát theo hai hướng chính: thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về trí tuệ, phát triển trí tuệ và xác lập cơ chế, con đường tác động đến sự phát triển trí tuệ của cá nhân một cách hiệu quả; thứ hai, nghiên cứu triển khai thực tiễn các chương trình, các mô hình giáo dục để bồi dưỡng, đào tạo tài năng cho người học ở các cấp trình độ khác nhau. Những nghiên cứu ở Việt Nam Dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học và kính trọng người tài. Trong gia phả của nhiều dòng họ, cũng như trong hương ước của nhiều làng, xã đều khuyến khích con cháu học tập để trở thành tài năng.
Từ xa xưa ông cha ta đã sớm thấy rõ tầm quan trọng của việc tuyển chọn người tài trên mọi lĩnh vực và đã tiến hành với nhiều hình thức phong phú. Việc tổ chức thi đấu, biểu diễn ở các ngày lễ hội; việc quy định về thể thức, màu sắc quần áo, chỗ ngồi, phần biếu ở đình làng; việc miễn đi phu, đi lính cho những người có chức sắc; việc đón rước những người đỗ đạt, cao nhất là các Trạng nguyên, Tiến sĩ khi vinh quy bái tổ về làng đều có tác động to lớn, khuyến khích việc học tập để trở thành người tài năng. Từ 1070, vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng Văn Miếu sau này phát triển thành Quốc Tử Giám, là một kiểu trường đại học đầu tiên ở nước ta. Trên bia Văn Miếu ở Quốc Tử Giám, Hà Nội, tổ tiên ta đã khẳng định: “Những người tài giỏi là yếu tố cốt tử đối với một chính thể.
Khi yếu tố này kém đi thì quyền lực đất nước này bị suy thoái”. “Những người tài giỏi, có học thức là một sức mạnh đặc biệt quan trọng đối với đất nước” [31, tr 42]. Năm 1075 nhà Lý cho mở khoa thi Minh kinh bác học, và kén chọn các quan có trình độ học vấn cao bổ vào việc dạy trong Quốc Tử Giám (lập năm 1076). Việc đào tạo tuyển chọn tài năng qua khoa cử một cách chính quy, bắt đầu từ thời này.
Tới thời Trần, năm 1253 Trần Thái Tông (1225-1293) lập Quốc học viện để giảng dạy tứ thư, ngũ kinh và Giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Triều đình đã cho mở học 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đường bên Hữu Phủ để tập hợp văn võ bốn phương, cấp cho ăn mặc, để được học tập, đào tạo thành tài. Trong số đó có 20 người đã đỗ đạt cao, mà Mạc Đĩnh Chi, Bùi Phóng… là những người tài được đào tạo trong học đường này. Năm 1397, hệ thống trường phát triển, ở Lộ có quan Đốc học, ở Phủ, Châu có quan giáo thụ.
Họ được hưởng bổng lộc, ruộng đất để chăm lo việc học tập cho dân (Ngô Sĩ Liên và các sứ thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư T.II kỷ nhà Trần NXB KHXH Hà Nội 1965 tr. Trong chiếu khuyến học của triều đình thời đó đã ghi rõ: “Lộ quan và quan đốc học hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghệ cứ đến cuối năm thì chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc”. Chiếu cầu hiền của vua Lê Thái Tổ năm 1429 có câu: “Đất nước thịnh vượng tất ở việc cử hiền. Người làm vua thiên hạ phải lo công việc đó trước tiên”.
Tại Quốc Tử giám - Hà nội đã diễn ra 124 khóa thi Tiến sĩ, hiện còn lưu giữ được 82 bia ghi các thí sinh trúng tuyển của 82 khóa thi này. Thời Hậu Lê, vua Lê Thánh Tông mở rộng Nhà Thái học để cho học sinh học tập, lập thư khố đầu tiên để chứa sách và năm 1484, chủ trương cho khắc văn bia đầu tiên ở nước ta. Tới thời kỳ này, hệ trường công đã phát triển ở Phủ, Châu và các học sinh ưu tú con em những người dân thường đã được tiến cử về kinh đô học. Đến năm 1737 đã cho khắc bản in sách dùng trong nước và cấm không cho mua sách in từ Trung Hoa, đánh dấu giai đoạn đào tạo và sách học, cũng như văn hóa phẩm Việt Nam ít lệ thuộc vào bên ngoài.
Tới thời nhà Nguyễn, vua Gia Long lập nhà Quốc học Huế và Khuê Văn Các. Năm 1805, cho lập giảng đường: dựng 2 học xá hai bên tả hữu và cấp lương bổng cho các giám sinh để họ theo dõi việc học tập ở kinh đô Huế. Đáng chú ý là để làm nền, làm cơ sở hậu thuẩn cho việc đào tạo nhân tài thì có một hệ thống trường lớp tư, được khuyến khích mở rộng rãi khắp nơi. Bất cứ nho sĩ, võ sư, nghệ nhân nào cũng có quyền mở lớp, trường, lớp học.
Những gia đình quan tâm đến việc học tập, rèn luyện võ nghệ hoặc tay nghề của con cái, đều có thể mời thầy về nhà, và biến lớp học tư gia thành trường, lớp học chung cho cả thôn, xóm, bản, làng. Những trường, lớp này có rải rác ở các làng mạc và việc tổ chức thi hương, chính là tuyển chọn số học sinh ưu tú của các trường, lớp này. Tuy nhiên, ở trường, lớp hương học này cũng có nhiều trình độ: từ khai tâm (Tam tự kinh) cho đến trình độ đại học chung dưới một mái nhà, hoặc mái trường. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vua Quang Trung rất chú trọng việc đào tạo người tài.
Khi lên ngôi cho tổ chức khoa thi hương đầu tiên, đã mời Nguyễn Thiếp – La Sơn Phu Tử làm chánh chủ khảo. Khi thi Đình ở kinh đô, vua Quang Trung trực tiếp ra đề thi và nhấn mạnh “Trẫm khi mới vừa bình định, đã có nhã ý hậu đãi nhà nho, lưu tâm mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài để dùng cho nước nhà”. Như vậy, việc đào tạo nhân tài bắt đầu có hệ thống từ thời nhà Lý, và góp phần phát hiện, tuyển chọn, đào tạo được nhiều tài năng cho đất nước, nhưng trong thực tiễn, rất nhiều tài năng nhất là tài năng trong quân sự, trong các ngành nghề truyền thống, không hẳn chỉ do đào tạo bài bản, có hệ thống trong trường học, mà một số khá đông tài năng, được đào tạo theo kiểu dìu dắt, kèm cặp và được rèn luyện, trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh, lao động và hoạt động chính trị xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ ngày đầu tiên kiến quốc đã nhấn mạnh vai trò của nhân tài: “Kiến thiết cần có nhân tài.
Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng thêm nhiều”. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ đã nhắn nhủ: “Ngày nay các cháu được cái may mắn hơn cha anh là được tiếp thu một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nhằm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các cháu. Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”[66, tr 81]. Nghị quyết của Bộ Chính trị số 14-NQ/TW (khóa IV) ngày 11-01-1979 về cải cách giáo dục đã nêu rõ: “Trong hệ thống giáo dục phổ thông cần mở những trường lớp phổ thông cho những học sinh có năng khiếu đặc biệt”.