phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng: - Chƣơng 1. Tổng quan các công trình khoa học đã công bố về mô hình quản lý KH&CN cấp địa phƣơng theo hƣớng mở rộng sự tham gia của cộng đồng - Chƣơng 2. Cơ sở lý luận về mô hình quản lý KH&CN cấp tỉnh theo hƣớng mở rộng tham gia của cộng đồng - Chƣơng 3. Thực trạng tham gia quản lý KH&CN của cộng đồng tại tỉnh Hà Nam - Chƣơng 4.
Cấu trúc và động thái của mô hình quản lý KH&CN theo hƣớng mở rộng sự tham gia của cộng đồng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐỊA PHƢƠNG THEO HƢỚNG MỞ RỘNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG 1. Các công trình khoa học đã công bố ở nƣớc ngoài 1. Nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý khoa học và công nghệ KH&CN ngày càng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của mỗi quốc gia, địa phƣơng.
Toàn cầu hoá là quá trình hội nhập của các quốc gia trên thế giới thông qua thƣơng mại, di chuyển các dòng vốn, dòng tri thức KH&CN, di chuyển nguồn nhân lực chất lƣợng, liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp và các tổ chức trong việc thực hiện hoạt động KH&CN. Trong nghiên cứu bàn về quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới, đề xuất cho khuôn khổ phƣơng pháp luận, Adriana Bin, Sergio Salles-Filhoa (2012) đã phân tích cơ sở lý luận và các nguyên tắc quản lý KH&CN, đổi mới, trong đó nhấn mạnh sự quản lý đa dạng: quản lý nhà nƣớc về KH&CN, đổi mới, quản lý KH&CN trong nội bộ các trƣờng đại học/viện nghiên cứu và trong doanh nghiệp dựa trên các nguyên tắc: - Hệ thống năng động và thích ứng về nguồn nhân lực KH&CN, về vốn đầu tƣ cho nghiên cứu với sự tham gia của các tổ chức/cộng đồng dân cƣ khác nhau; - Hình thành các quỹ “phi nhà nƣớc” chi cho nghiên cứu và triển khai, nguồn tài chính dành cho các quỹ này không do Nhà nƣớc đầu tƣ, mà đƣợc hình thành trên cơ sở đóng góp, phân chia lợi nhuận thu đƣợc từ kết quả nghiên cứu… 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Adriana Bin, Sergio Salles-Filhoa (2012) đã nghiên cứu trƣờng hợp của Tập đoàn nghiên cứu nông nghiệp Braxin, Embrapa (Brazilian Agricultural Research Corporation, Embrapa) để bàn về vấn đề sự tham gia của cộng đồng, sự tham gia của toàn xã hội trong việc triển khai, thực hiện những hoạt động liên quan đến quản lý KH&CN, trong đó có việc huy động toàn xã hội, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp quan tâm đến hoạt động KH&CN dƣới nhiều hình thức khác nhau, triển khai hoạt động KH&CN, tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN, đầu tƣ cho hoạt động KH&CN, tham gia trong việc hoạch định chính sách phát triển KH&CN… [Adriana Bin, Sergio Salles- Filhoa; 2012] Trong nghiên cứu về các mô hình quản lý công viên KH&CN, từ kinh nghiệm của nƣớc ngoài và đề xuất cho Ba Lan, Łobejko, Stanislaw, Sosnowska (2015) đã đƣa ra các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc quản lý này: - Hoạt động đổi mới và tạo nên tài sản trí tuệ của các viện nghiên cứu thuộc các trƣờng đại học trong công viên công nghệ; - Thu hút vốn tài trợ từ các doanh nghiệp và cộng đồng để đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D); - Tạo nên giá trị của kết quả nghiên cứu đƣợc tiến hành trong công viên công nghệ, thông qua hoạt động thƣơng mại các kết quả nghiên cứu này; - Nhân công địa phƣơng tham gia vào công viên công nghệ; - Số lƣợng kết quả nghiên cứu đƣợc chuyển giao và lợi nhuận thu đƣợc do thƣơng mại các kết quả nghiên cứu này. Łobejko, Stanislaw, Sosnowska (2015) đã đề xuất các mô hình quản lý: - Mô hình 1: Công viên khoa học đại học, trong đó nhấn mạnh công viên KH&CN là một phần không thể tách rời của trƣờng đại học; - Mô hình 2: Công viên với tƣ cách một tổ chức độc lập, hoạt động nhƣ mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Mô hình 3: Công viên với tƣ cách một tổ chức có liên quan, hoạt động nhƣ mô hình Công ty cổ phần, trong đó vốn đóng góp có sự tham gia của cộng đồng những ngƣời làm KH&CN chuyên nghiệp, những ngƣời làm KH&CN không chuyên nghiệp và đặc biệt là có sự góp vốn của cộng đồng dân cƣ. Vốn đóng góp theo cổ phần và lợi nhuận đƣợc phân chia theo cổ tức, có tính đến bù đặp chi phí cho nghiên cứu và tái đầu tƣ cho nghiên cứu, sáng tạo nên công nghệ mới theo nhu cầu của thị trƣờng, mà trƣớc hết là của chính các doanh nghiệp trong công viên KH&CN ở mô hình 2; - Mô hình 4: Công viên mạng, thực chất là sàn giao dịch công nghệ ảo, nơi giao dịch dành cho bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ theo nguyên tắc “thị trƣờng theo nhu cầu” mà không tổ chức theo nguyên tắc “thị trƣờng tiềm năng”, nghĩa là nghiên cứu theo nhu cầu của doanh nghiệp, trƣớc hết là các doanh nghiệp trong mô hình 2 và sau đó là theo nhu cầu của các doanh nghiệp trong nƣớc và nƣớc ngoài.
Nghiên cứu này cũng đƣa ra những mẫu hình tƣơng tác hiệu quả trong mối quan hệ giữa trƣờng đại học và doanh nghiệp trong việc thƣơng mại hóa các công nghệ từ trƣờng đại học nhƣ các doanh nghiệp KH&CN, sự lƣu chuyển nhân lực từ trƣờng đại học đến doanh nghiệp, các nghiên cứu viên trong các trƣờng đại học huấn luyện cho cán bộ làm việc tại doanh nghiệp, các doanh nghiệp thuê các nhà nghiên cứu và xem họ nhƣ những ngƣời tƣ vấn, hợp tác với nhau trong việc thực hiện các dự án R&D, hợp đồng nghiên cứu, hƣớng dẫn luận văn, đào tạo nghề và một số hình thức liên kết khác. Nghiên cứu của Kazuyuki Motohashi (2004) đã phân tích các yếu tố ảnh hƣởng tới hợp tác giữa trƣờng đại học và doanh nghiệp dựa trên số liệu điều tra của viện nghiên cứu kinh tế và công thƣơng Nhật Bản, nghiên cứu này đã chỉ ra nhu cầu về công nghệ của doanh nghiệp là mục tiêu nghiên cứu ứng dụng của các trƣờng đại học, trong đó lấy lợi nhuận của doanh nghiệp là đích phục vụ thể hiện trong hoạt động R&D của trƣờng đại học, điểm đặc biệt là nghiên cứu này cũng chỉ ra vai trò tham gia quản lý KH&CN của doanh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp thể hiện ở việc tham gia hoạch định chiến lƣợc hoạt động KH&CN của trƣờng đại học. [Kazuyuki Motohashi; 2004] Trên thế giới, vai trò của cộng đồng tham gia quản lý trong các lĩnh vực khác nhau đã đƣợc nhiều học giả quan tâm, có thể dẫn chứng: - Sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên (Community Participation in natural resources management); - Sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực quản lý đô thị (Community Participation in Urban Planning Management); - Sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực quản lý trƣờng học (Community Participation in School Management); - Sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực quản lý KH&CN (Community Participation in Science and Technology Management, Public participation in science and technology)… Trong số các học giả nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý KH&CN, có Chopyak J. (2002), “Public participation in science and technology decision making: trends for the future” (Sự tham gia của cộng đồng vào việc ban hành quyết định về khoa học và công nghệ: xu hướng cho tương lai), Technology in Society, Vol.
155–166 đã đề cập đến các xu hƣớng trong quá khứ, hiện tại và tƣơng lai trong mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ, và xã hội tại Hoa Kỳ. Nghiên cứu này đề xuất một sự thay đổi trong môi trƣờng nghiên cứu khoa học hiện tại, kêu gọi sự hợp tác nghiên cứu mới và mối quan hệ mới giữa khoa học và xã hội. Sự thay đổi này đòi hỏi sự tham gia của cộng đồng nhiều hơn vào việc ra quyết định trong quản lý khoa học và công nghệ, cộng đồng dân cƣ cần đƣợc cung cấp các thông tin về KH&CN, cơ hội tham gia trong quá trình ra quyết định quản lý KH&CN. Nghiên cứu này cũng đề cập đến sự tham gia của cộng đồng vào việc xây dựng chƣơng trình, kế hoạch phát triển KH&CN của địa phƣơng, huy động tài chính từ cộng đồng doanh nghiệp, cộng đồng dân cƣ cho hoạt động KH&CN.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự tham gia của cộng đồng không chỉ dừng lại ở việc quản lý KH&CN nói chung, mà còn đi sâu vào lĩnh vực quản lý KH&CN đặc thù, trong số này có tác phẩm của Harwood J. (2008), “Community Participation in Australian Science and Technology Policy: The Case of Nanotechnology” (Sự tham gia của cộng đồng trong chính sách khoa học và công nghệ tại Australia: Nghiên cứu trường hợp công nghệ nano), Critical Studies in Innovation Vol. 153-163, nghiên cứu này đề cập đến sự tham gia của cộng đồng trong việc hoạch định chính sách KH&CN, tác giả đã dẫn chứng qua trƣờng hợp công nghệ nano tại Australia [Harwood J. OECD (2000) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa KH&CN và doanh nghiệp đã nghiên cứu so sánh sự liên kết giữa khoa học và doanh nghiệp trong 10 quốc gia phát triển nhƣ Áo, Bỉ, Phần lan, Đức, Ireland, Ý, Thụy Điển, Anh, Mỹ và Nhật Bản.
Nghiên cứu này đã phân tích sự liên kết KH&CN và doanh nghiệp trên các phƣơng diện nhƣ hợp tác trong R&D (cùng tiến hành dự án, hợp đồng, tƣ vấn, hợp tác trong việc thực hiện các dự án đổi mới công nghệ), sự lƣu chuyển nhân lực KH&CN từ khu vực KH&CN sang doanh nghiệp và ngƣợc lại, hợp tác trong giáo dục và đào tạo, các hình thức thƣơng mại hóa các kết quả KH&CN. OECD (2000) cũng chỉ ra những mặt tích cực trong liên kết KH&CN - doanh nghiệp (khi nào có sự liên kết mạnh giữa KH&CN-doanh nghiệp) của mỗi quốc gia cũng nhƣ những điểm hạn chế cần khắc phục trong mối liên kết này cả trên phƣơng diện lý thuyết và thực tiễn, giữa các tổ chức chuyển giao/cấp phép công nghệ, các công viên/làng khoa học, công viên công nghệ, trung tâm đổi mới, cực công nghệ, chùm đổi mới… [OECD; 2000] Trên phƣơng diện chính sách, nhiều nghiên cứu cụ thể về vai trò của doanh nghiệp trong KH&CN đã giúp chính phủ nhiều nƣớc đã ban hành hàng loạt các biện pháp chính sách tăng cƣờng liên kết KH&CN-doanh nghiệp thông qua các chƣơng trình, kế hoạch hay sáng kiến nhƣ Chƣơng trình hỗ trợ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.