Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số đào tạo thí điểm) với đề tài "Mô hình quản lý khoa học và công nghệ cấp tỉnh theo hướng mở rộng tham gia của cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Nam)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Mạnh Tiến thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Cao Đàm (người hướng dẫn chính) và PGS.TS. Trần Văn Hải (người hướng dẫn phụ), được bảo vệ năm 2019.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển của kinh tế tri thức, hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) giữ vai trò động lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng, hoạt động KH&CN bước đầu đã có sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong các ngành như nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, cơ chế quản lý KH&CN cấp địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: thủ tục đầu tư còn rườm rà, kéo dài; chính sách tài chính lập dự toán, quyết toán kinh phí còn nặng nề và bị ràng buộc bởi kế hoạch năm tài chính, làm giảm tính chủ động và hiệu quả của các đề tài, dự án. Các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vấn đề xã hội hóa hoặc sự tham gia của các bên một cách rời rạc, riêng lẻ ở từng lĩnh vực, chưa xây dựng được một mô hình quản lý mang tính hệ thống nhằm mở rộng sự tham gia của các nhóm cộng đồng vào công tác quản lý KH&CN ở cấp tỉnh.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đề xuất mô hình quản lý KH&CN cấp tỉnh theo hướng mở rộng tham gia của cộng đồng.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:
- Phân tích cơ sở lý thuyết cộng đồng tham gia quản lý KH&CN.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá quá trình tham gia của cộng đồng vào hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và áp dụng trong sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
- Đề xuất mô hình mở rộng sự tham gia của ba cộng đồng vào quản lý KH&CN, đồng thời đề xuất tổ chức quỹ KH&CN tỉnh và Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Câu hỏi chính: Mô hình cộng đồng tham gia quản lý KH&CN cấp tỉnh có cấu trúc và động thái như thế nào?
- Câu hỏi cụ thể 1: Cấu trúc của các mô hình mở rộng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý KH&CN, tổ chức quỹ KH&CN tỉnh và Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi cụ thể 2: Động thái của các mô hình cộng đồng tham gia quản lý KH&CN ở tỉnh Hà Nam diễn ra như thế nào?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm:
- Giả thuyết chính: Mô hình cộng đồng tham gia quản lý KH&CN cấp tỉnh có 3 nhóm cộng đồng gồm cộng đồng nghề nghiệp (người làm KH&CN chuyên nghiệp), cộng đồng KH&CN công dân (người làm KH&CN không chuyên), cộng đồng dân cư vùng địa lý (dân cư trong tỉnh); động thái của mô hình cộng đồng tham gia quản lý KH&CN cấp tỉnh tập trung vào 4 nội dung chính (giám sát, tư vấn, phản biện, đánh giá) theo xu hướng tăng dần mức độ tham gia.
- Giả thuyết cụ thể 1: Cấu trúc của các mô hình mở rộng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý KH&CN, tổ chức quỹ KH&CN tỉnh và Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp gồm 3 nhóm cộng đồng: cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng KH&CN công dân và cộng đồng dân cư vùng địa lý.
- Giả thuyết cụ thể 2: Động thái của các mô hình cộng đồng tham gia quản lý KH&CN ở tỉnh Hà Nam diễn ra theo 5 mức độ tăng dần của sự tham gia: mô hình chiều dọc thuần túy, mô hình thích nghi, mô hình cùng sáng tạo, mô hình thiết chế cộng đồng, mô hình kết hợp.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu là mô hình cộng đồng tham gia quản lý KH&CN cấp tỉnh, bao gồm 3 nhóm đối tượng: cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng KH&CN công dân và cộng đồng dân cư vùng địa lý.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Tỉnh Hà Nam.
- Thời gian: Giai đoạn 2014-2017 (kèm dữ liệu tài chính giai đoạn 2011-2015).
- Nội dung: Quá trình tham gia quản lý KH&CN trên thế giới, kinh nghiệm quốc tế và các mô hình tham gia của cộng đồng trong quản lý KH&CN tại địa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sự tham gia của cộng đồng vào quản lý KH&CN:
Về các nghiên cứu quốc tế:
- Adriana Bin và Sergio Salles-Filhoa (2012) nghiên cứu về nguyên tắc quản lý KH&CN và đổi mới, phân tích trường hợp Tập đoàn nghiên cứu nông nghiệp Braxin (Embrapa), nhấn mạnh việc huy động xã hội tham gia R&D và hình thành các quỹ tài chính "phi nhà nước".
- Łobejko, Stanislaw và Sosnowska (2015) nghiên cứu mô hình quản lý công viên KH&CN tại Ba Lan, đề xuất 4 mô hình quản lý (công viên khoa học đại học, công viên dạng công ty TNHH độc lập, công viên dạng công ty cổ phần có vốn góp từ cộng đồng, và công viên mạng hoạt động như sàn giao dịch công nghệ ảo).
- Kazuyuki Motohashi (2004) phân tích các yếu tố tác động đến hợp tác viện - trường và doanh nghiệp dựa trên số liệu của Viện nghiên cứu kinh tế và công thương Nhật Bản, chỉ ra vai trò của doanh nghiệp trong tham gia hoạch định chiến lược KH&CN.
- Chopyak J. (2002) nghiên cứu xu hướng tham gia của công chúng vào việc ban hành quyết định KH&CN tại Hoa Kỳ.
- Harwood J. (2008) nghiên cứu trường hợp tham gia của cộng đồng vào chính sách KH&CN đối với công nghệ nano tại Australia.
- OECD (2000) khảo sát so sánh liên kết KH&CN - doanh nghiệp tại 10 quốc gia phát triển (Áo, Bỉ, Phần Lan, Đức, Ireland, Ý, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Nhật Bản).
- Atsushi Sunami (2011) phân tích cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào R&D tại Nhật Bản thông qua mạng liên kết ngành, trường đại học và chính sách ưu đãi thuế.
- Patarapong Intarakumnerd (2017) phân tích lộ trình phát triển năng lực nghiên cứu của doanh nghiệp châu Á theo chuỗi từ chế tạo, thiết kế, phát triển đến nghiên cứu.
- Gregory Vaughan (2013), Danae Ringelmann (Indiegogo) và Jai Ranganathan (SciFund Challenge) nghiên cứu phương thức gọi vốn cộng đồng (crowd-funding) cho các dự án nghiên cứu khoa học.
- Castelfranchi Y. (2009) nghiên cứu về khía cạnh xã hội hóa nghiên cứu KH&CN trong lĩnh vực công nghệ nano và công nghệ thông tin - truyền thông.
- Kinh nghiệm quốc tế về cung ứng dịch vụ KH&CN được tác giả phân tích tại Singapore (mô hình A*STAR, Biopolis, Fusionopolis) và Liên minh Châu Âu (chương trình khung FP7 giai đoạn 2007-2013, Horizon 2020 giai đoạn 2014-2020, Trung tâm nghiên cứu hỗn hợp JRC, Hội đồng nghiên cứu châu Âu ERC).
Về các nghiên cứu trong nước:
- Đào Thanh Trường (2016) trong đề tài nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn xã hội hóa hoạt động KH&CN tỉnh Hà Nam đã chỉ ra thực trạng xã hội hóa còn nặng về nghiên cứu cơ bản, chưa chú trọng triển khai thực nghiệm và dịch vụ KH&CN, đồng thời đề xuất mô hình Quỹ KH&CN của tỉnh và doanh nghiệp.
- Thực tiễn tại các địa phương được tác giả tổng hợp từ báo cáo của các nhà quản lý: Nguyễn Minh Tân (Sở KH&CN Bắc Ninh) về cân đối cung cầu KH&CN và mô hình Khu thực nghiệm nông nghiệp công nghệ cao Việt Đoàn; Lê Đức Ngân (Sở KH&CN Nam Định) về cơ chế hỗ trợ tài chính cho hơn 30 tổ chức KH&CN và doanh nghiệp (như Công ty TNHH Cường Tân, Công ty CP Cá giống Nam Trực); Ngô Khánh Lân và Hà Huy Bắc (Quỹ phát triển KH&CN tỉnh Vĩnh Phúc) về kết quả 5 năm (2008-2013) cho vay 11 dự án với tổng vốn hơn 4,3 tỷ đồng trên vốn điều lệ 5 tỷ đồng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn: Các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu thực tiễn phân tán ở từng lĩnh vực hoặc khảo sát chính sách cụ thể, thiếu một khung lý thuyết hệ thống để mô hình hóa toàn diện cả về mặt cấu trúc lẫn động thái vận hành của sự tham gia từ các nhóm cộng đồng vào quản lý KH&CN cấp tỉnh. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống 15 mô hình nhánh kết hợp giữa 3 nhóm cộng đồng và 5 cấp độ tham gia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các khái niệm và lý thuyết quản lý cốt lõi:
- Khái niệm quản lý theo lý thuyết quản lý khoa học của Frederick Winslow Taylor và 14 nguyên tắc quản lý của Henri Fayol.
- Mô hình quản lý và tương tác môi trường của Vũ Cao Đàm (2012), xác định hệ thống quản lý chịu sự tác động hai chiều với môi trường chính trị, pháp luật và kinh tế - xã hội.
- Khái niệm hoạt động KH&CN theo định nghĩa của UNESCO (1984) và phân loại các thành tố hoạt động KH&CN của Vũ Cao Đàm (2010):
| Nhóm hoạt động chính |
Thành tố trực thuộc |
Ký hiệu |
Nội dung cụ thể |
| Nghiên cứu và Triển khai (R&D) |
Nghiên cứu khoa học (R) |
FR |
Nghiên cứu cơ bản |
|
|
AR |
Nghiên cứu ứng dụng |
|
Triển khai thực nghiệm (D) |
Prototype |
Chế tác vật mẫu |
|
|
Pilot |
Làm thử |
|
|
$N_0$ |
Sản xuất loạt không |
| Chuyển giao công nghệ (T) |
Chuyển giao dọc |
VT |
Chuyển giao từ nghiên cứu sang sản xuất |
|
Chuyển giao ngang |
HT |
Chuyển giao giữa các cơ sở sản xuất |
| Phát triển công nghệ (TD) |
Mở rộng công nghệ |
EDT |
Gia tăng quy mô công nghệ |
|
Nâng cấp công nghệ |
ITD |
Cải tiến, hiện đại hóa công nghệ |
| Dịch vụ KH&CN |
Dịch vụ kỹ thuật |
STS |
Dịch vụ hỗ trợ, đo lường, kiểm định |
- Khái niệm cộng đồng, cộng đồng KH&CN, KH&CN công dân (người làm KH&CN không chuyên).
- Khung phân tích nền tảng gồm hai lý thuyết chính:
- Lý thuyết hệ thống: Sử dụng để phân tích cấu trúc và động thái của hệ thống quản lý KH&CN địa phương.
- Lý thuyết "mối liên kết ba" (Triple Helix): Phân tích cơ chế tương tác giữa ba chủ thể Nhà nước - Doanh nghiệp - Viện/Trường trong đổi mới sáng tạo.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp cách tiếp cận hệ thống đổi mới vùng (Regional Innovation System) với tiếp cận hai chiều: từ trên xuống (top-down, xuất phát từ nhà quản lý) và từ dưới lên (bottom-up, xuất phát từ cá nhân và doanh nghiệp).
Các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp tư liệu thứ cấp trong và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân cụm, phân tầng, ngẫu nhiên thuần túy với tổng quy mô 250 phiếu khảo sát, phân bổ thành 3 nhóm:
| Nhóm đối tượng khảo sát |
Quy mô mẫu |
Đặc điểm đối tượng |
| Cá nhân hoạt động KH&CN |
150 phiếu |
Trực tiếp nghiên cứu, triển khai, thương mại hóa, chuyển giao |
| Cá nhân cơ quan quản lý nhà nước |
50 phiếu |
Thực hiện quản lý nhà nước về KH&CN cấp tỉnh và huyện |
| Cá nhân tại doanh nghiệp |
50 phiếu |
Thực hiện R&D và thương mại hóa kết quả tại doanh nghiệp |
| Tổng cộng |
250 phiếu |
|
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập ý kiến định tính từ 55 cá nhân, bao gồm: 10 người làm KH&CN chuyên nghiệp, 15 người làm KH&CN không chuyên và 30 người thuộc cộng đồng dân cư liên quan.
- Phương pháp hội thảo, tọa đàm khoa học: Thu thập tư liệu từ 4 sự kiện khoa học do tác giả trực tiếp chủ trì hoặc tham gia ban tổ chức tại Hà Nam:
- Hội thảo mô hình kết hợp nhà nước và cộng đồng trong sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu (Duy Tiên) và chăn nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học (Lý Nhân) ngày 30/6/2012.
- Hội thảo ứng dụng KH&CN phát triển sản phẩm chủ lực vùng đồng bằng sông Hồng ngày 18/8/2012.
- Tọa đàm cộng đồng KH&CN tỉnh Hà Nam ngày 15/5/2014.
- Hội thảo đổi mới sáng tạo - Tọa đàm về tham gia của cộng đồng trong quản lý KH&CN ngày 22/6/2014.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các công trình khoa học đã công bố về mô hình quản lý khoa học và công nghệ cấp địa phương theo hướng mở rộng sự tham gia của cộng đồng
Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý KH&CN và sự tham gia của cộng đồng. Trên phương diện quốc tế, tác giả phân tích các nghiên cứu về quản trị đa dạng, kinh nghiệm quản lý công viên KH&CN tại Ba Lan, cơ chế liên kết đại học - doanh nghiệp tại Nhật Bản, xu hướng tham gia của công chúng vào quyết định KH&CN tại Hoa Kỳ, Australia và các mô hình cung ứng dịch vụ tại Singapore, EU. Về phương diện trong nước, chương này đánh giá các nghiên cứu về xã hội hóa KH&CN của Đào Thanh Trường (2016) và thực tiễn quản lý tại Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu hiện có chủ yếu tiếp cận theo từng lĩnh vực riêng lẻ hoặc dừng lại ở việc mô tả thực trạng, chưa xây dựng được cơ sở lý luận hệ thống để mô hình hóa sự tham gia của cộng đồng vào quản lý KH&CN ở cấp địa phương.
Chương 2. Cơ sở lý luận về mô hình quản lý khoa học và công nghệ cấp tỉnh theo hướng mở rộng tham gia của cộng đồng
Chương 2 làm rõ các khái niệm cơ bản: quản lý, hoạt động KH&CN, quản lý KH&CN, mô hình quản lý KH&CN cấp tỉnh, cộng đồng KH&CN và KH&CN công dân. Tác giả phân loại 4 thành tố của hoạt động KH&CN (R&D, chuyển giao công nghệ, phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN) và thiết lập 5 mô hình cộng đồng tham gia quản lý: (1) Mô hình theo chiều dọc thuần túy, (2) Mô hình thích nghi, (3) Mô hình cùng sáng tạo, (4) Mô hình thiết chế cộng đồng, (5) Mô hình kết hợp. Chương này cũng xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả của mô hình và luận giải việc ứng dụng Lý thuyết hệ thống cùng Lý thuyết "mối liên kết ba" (Triple Helix) làm cơ sở lý thuyết để thiết kế cấu trúc và động thái tham gia của cộng đồng.
Chương 3. Thực trạng tham gia quản lý khoa học và công nghệ của cộng đồng tại tỉnh Hà Nam
Chương 3 trình bày kết quả điều tra thực nghiệm tại tỉnh Hà Nam dựa trên 250 phiếu khảo sát và 55 cuộc phỏng vấn sâu. Tác giả phân tích thực trạng tham gia của 4 nhóm: cộng đồng KH&CN công dân, cộng đồng nghề nghiệp, doanh nghiệp và cộng đồng địa lý. Đánh giá thực trạng được xem xét qua các khía cạnh: cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho KH&CN giai đoạn 2011-2015, cơ cấu huy động các nguồn vốn đầu tư (nhà nước, cá nhân, doanh nghiệp), và mức độ tiếp cận, sử dụng hạ tầng kỹ thuật KH&CN. Kết quả khảo sát chỉ ra các hạn chế chính tại Hà Nam: nguồn lực đầu tư cho KH&CN còn thấp và phụ thuộc vào ngân sách nhà nước; cơ chế tài chính cấp phát theo năm làm giảm tính chủ động; sự tham gia của cộng đồng trong đầu tư phát triển nhân lực và tiếp cận cơ sở hạ tầng dùng chung còn hạn chế, các hợp đồng liên kết giữa doanh nghiệp và viện/trường còn mang tính ngắn hạn.
Chương 4. Cấu trúc và động thái của mô hình quản lý khoa học và công nghệ theo hướng mở rộng sự tham gia của cộng đồng
Chương 4 xác định các quan điểm, định hướng cùng điều kiện cần và đủ để phát triển mô hình. Tác giả thiết kế chi tiết cấu trúc và động thái cho các mô hình tham gia của từng nhóm cộng đồng:
- Mô hình cộng đồng nghề nghiệp gồm 5 nhánh: theo chuyên môn ngành khoa học, theo ngành/lĩnh vực, theo mục tiêu quản lý, theo mục tiêu chuỗi, thích hợp đa nguồn.
- Mô hình KH&CN công dân tham gia quản lý.
- Mô hình cộng đồng địa lý gồm 5 nhánh: cung cấp thông tin, cung cấp hạ tầng KH&CN, tham gia sáng tạo, nội sinh sáng tạo, động lực nội sinh hội nhập sáng tạo.
- Cấu trúc và động thái của Quỹ KH&CN tỉnh và Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp: tác giả xây dựng bộ tiêu chí đánh giá dự án vay vốn từ quỹ (tính khả thi, hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, khả năng hoàn vốn) và cơ chế vận hành tài chính độc lập nhằm khắc phục hạn chế của niên độ ngân sách hành chính.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp sau:
- Vận dụng Lý thuyết hệ thống và Lý thuyết Triple Helix để xây dựng khung mô hình quản lý KH&CN cấp tỉnh theo hướng mở rộng sự tham gia của cộng đồng.
- Phân loại và tích hợp 3 nhóm cộng đồng (nghề nghiệp, KH&CN công dân, dân cư vùng địa lý) tham gia vào 4 nội dung quản lý trọng tâm: giám sát, tư vấn, phản biện, đánh giá.
- Hệ thống hóa 5 cấp độ tham gia tăng dần (chiều dọc thuần túy, thích nghi, cùng sáng tạo, thiết chế cộng đồng, kết hợp), tạo lập cấu trúc 15 mô hình nhánh hoạt động độc lập và bổ trợ lẫn nhau trong quản lý KH&CN cấp tỉnh.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả:
- Cung cấp dữ liệu thực nghiệm về thực trạng tham gia quản lý KH&CN của các nhóm cộng đồng tại tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2017.
- Chứng minh tính tất yếu của việc chuyển đổi phương thức quản lý từ mệnh lệnh hành chính thuần túy sang cơ chế phân cấp, hỗ trợ và phát huy tính tự quản của cộng đồng.
- Đề xuất mô hình tổ chức, quy chế vận hành và tiêu chí lựa chọn dự án cho vay vốn của Quỹ phát triển KH&CN cấp tỉnh và Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp nhằm đa dạng hóa nguồn tài chính ngoài ngân sách.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đổi mới cơ chế tài chính KH&CN cấp tỉnh: chuyển từ cơ chế cấp phát hành chính sang cấp phát và cho vay thông qua Quỹ KH&CN tỉnh để kéo dài thời gian thanh quyết toán phù hợp với chu kỳ nghiên cứu.
- Thúc đẩy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập theo tinh thần Nghị định 115 của Chính phủ.
- Tăng cường liên kết ba nhà (Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp) thông qua các hợp đồng nghiên cứu trung và dài hạn, hình thành các khu thực nghiệm nông nghiệp công nghệ cao và sàn giao dịch công nghệ.
- Thiết lập cơ chế để cộng đồng KH&CN công dân và cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào quá trình phản biện, tư vấn và đánh giá hiệu quả ứng dụng của các đề tài, dự án KH&CN tại cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Dữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung chủ yếu trên địa bàn một địa phương cụ thể là tỉnh Hà Nam trong mốc thời gian 2014-2017 với cỡ mẫu 250 phiếu điều tra bảng hỏi và 55 mẫu phỏng vấn sâu.
- Các mô hình đề xuất về quỹ KH&CN doanh nghiệp và cơ chế tài trợ mới chủ yếu dừng ở mức khung thiết kế và thử nghiệm chính sách tại địa bàn nghiên cứu điểm, chưa khảo sát mở rộng trên nhiều tỉnh, thành có quy mô kinh tế khác biệt.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án:
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm sang các tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh tế khác nhau để kiểm chứng và hiệu chỉnh tính thích ứng của hệ thống 15 mô hình nhánh.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế pháp lý cho việc huy động các nguồn vốn tài trợ phi nhà nước, các hình thức gọi vốn cộng đồng (crowd-funding) và quỹ đầu tư mạo hiểm phục vụ hoạt động KH&CN tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN (Bộ KH&CN, Sở KH&CN các địa phương, UBND cấp tỉnh): Tham khảo khung mô hình phân cấp quản lý, cơ chế tiếp nhận ý kiến phản biện từ cộng đồng và căn cứ thực tiễn để xây dựng đề án thành lập, vận hành Quỹ phát triển KH&CN địa phương.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Quản lý KH&CN, Quản lý công và Chính sách công: Tham khảo phương pháp luận kết hợp Lý thuyết hệ thống và Lý thuyết Triple Helix trong nghiên cứu quản lý nhà nước, cùng hệ thống bảng hỏi và ma trận 15 mô hình tham gia của cộng đồng.
- Doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN: Tham khảo mô hình thành lập Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp, các tiêu chí xét duyệt dự án vay vốn KH&CN và cơ chế hợp tác R&D với các viện nghiên cứu, trường đại học.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa 15 mô hình cấu trúc - động thái của 3 nhóm cộng đồng và khung tiêu chí tổ chức Quỹ KH&CN tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia các nhóm cộng đồng tham gia quản lý KH&CN cấp tỉnh như thế nào?
Luận án xác định 3 nhóm cộng đồng tham gia quản lý KH&CN:
- Cộng đồng nghề nghiệp: những người làm KH&CN chuyên nghiệp tại các viện, trường, trung tâm nghiên cứu.
- Cộng đồng KH&CN công dân: những người làm KH&CN không chuyên, người dân có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất.
- Cộng đồng dân cư vùng địa lý: người dân sinh sống trên địa bàn tỉnh, đóng vai trò giám sát, thụ hưởng và phản hồi về các ứng dụng KH&CN.
2. Động thái tham gia của cộng đồng vào quản lý KH&CN gồm những mức độ nào?
Động thái tham gia được phân thành 5 mức độ tăng dần:
- Mô hình theo chiều dọc thuần túy (quản lý hành chính từ trên xuống).
- Mô hình thích nghi.
- Mô hình cùng sáng tạo.
- Mô hình thiết chế cộng đồng.
- Mô hình kết hợp.
Các mức độ này tập trung vào 4 nội dung chính: giám sát, tư vấn, phản biện và đánh giá.
3. Luận án sử dụng những lý thuyết nền tảng nào để thiết kế mô hình?
Luận án dựa trên 2 lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết hệ thống: Phân tích hệ thống quản lý KH&CN theo hai yếu tố cấu trúc và động thái.
- Lý thuyết "mối liên kết ba" (Triple Helix): Phân tích cơ chế tương tác đa chiều giữa ba chủ thể Nhà nước - Doanh nghiệp - Viện/Trường.
4. Dữ liệu khảo sát thực địa tại tỉnh Hà Nam được tác giả thu thập với quy mô như thế nào?
Dữ liệu khảo sát gồm:
- 250 phiếu điều tra bảng hỏi (150 cá nhân hoạt động KH&CN, 50 cá nhân cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN, 50 cá nhân tại doanh nghiệp).
- 55 cuộc phỏng vấn sâu (10 người làm KH&CN chuyên nghiệp, 15 người làm KH&CN không chuyên, 30 người thuộc cộng đồng dân cư).
- Dữ liệu thu thập từ 4 hội thảo, tọa đàm khoa học thực tế tại Hà Nam trong giai đoạn 2012-2014.
5. Luận án phân tích bài học kinh nghiệm từ Quỹ phát triển KH&CN tỉnh Vĩnh Phúc ra sao?
Luận án dẫn chứng Quỹ phát triển KH&CN tỉnh Vĩnh Phúc (thành lập năm 2008, vốn điều lệ 5 tỷ đồng): sau 5 năm hoạt động (2008-2013) đã cho vay 11 dự án với tổng vốn hơn 4,3 tỷ đồng (trung bình 2,5 dự án/năm, mức vay 300-500 triệu đồng/dự án). Luận án chỉ ra các hạn chế của quỹ này: thiếu chức năng tài trợ thực tế trong quy chế tài chính; số lượng dự án ít; quy trình thẩm định kéo dài (60-90 ngày); vốn điều lệ nhỏ chỉ đáp ứng 15-20% nhu cầu dự án; và chưa huy động được nguồn vốn ngoài ngân sách.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Tiến đã xây dựng khung lý luận và mô hình thực tiễn về quản lý KH&CN cấp tỉnh theo hướng mở rộng sự tham gia của cộng đồng, ứng dụng trên trường hợp tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2017. Thông qua việc tích hợp Lý thuyết hệ thống và Lý thuyết Triple Helix, công trình đã mô hình hóa sự tham gia của 3 nhóm cộng đồng (nghề nghiệp, công dân, địa lý) theo 5 cấp độ tăng dần, tạo thành hệ thống 15 mô hình nhánh. Kết quả nghiên cứu đồng thời đề xuất giải pháp kiện toàn thiết chế Quỹ KH&CN cấp tỉnh và Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp, cung cấp cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi phương thức quản lý KH&CN địa phương từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế phân cấp, tự quản và huy động đa dạng các nguồn lực xã hội.