Mở đầu cho hướng nghiên cứu này là các công trình nghicn cứu cùa Đocutsaev - người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp trong nghiên cứu các ĐKTN của các địa phương cụ thể. Sau Đocutsaev, rất nhiều những công trình nghiên cứu về SDHLTN, BVMTV dựa trên quan điểm tổng hợp của các nhà địa lý Xô Viết như s. Ixatsenko, đã hoàn thiện lý luận và thực tiễn nghiên cứu tổng hợp cho mục đích phát triển nền kinh tế quốc dân. Tiếp cận tổng hợp đã được áp dụng vào Việt Nam cả về lý thuyết lẫn trong thực tiền nghiên cứu địa lý trong các công trình của nhiều nhà khoa học như Nguyễn Văn Chiển, Vũ Tự Lập, Lê Bá Thào, v.
Trong một vài thập niên gần đây, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về CQ cũng như ĐGTH nhằm mục đích sử dụng hợp lý lãnh thổ và BVMT như các công trình mang tính chất lý thuyết cành quan ứng dụng cùa các tác giả Vũ Tự Lập[17], Phạm Hoàng Hải [10], Nguyễn Cao Huần [12],. Năm 1976, trong cuốn “Cảnh quan Địa lý miền Bắc Việt Nam" [17], GS. Vũ Tự Lập đã trình bày về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp c ọ. Qua công trình này, quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu địa lý tự nhiên đã được đề cao và quan điểm tổng hợp dã chinh phục dưực 5 nhiều người bởi tính logic của nó.
Quan điểm tổng hợp đã có những đóng góp to lớn trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất. Năm 1997, trong cuốn “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bào vệ môi trường lãnh thô Việt Nam", [10] các tác già Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã đề cập khá đẩy đù về những biển đổi cùa tự nhiên dưới các tác động cùa con người, đưa ra các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. * Các công trình nghiên cứu về tinh Quáng Bình Trước Cách mạng tháng Tám, công việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên cùa Quảng Bình cũng đã được các nhà địa lý người Pháp tiến hành. Có một số công trình cũng nghiên cứu khu vực ven biển miền Trung.
Sau đó, các nhà địa lý Việt Nam và Xô Viết cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu chung có liên quan đến khu vực ven biển miền Trung và tỉnh Quảng Bình nói riêng như các công trình nghiên cứu về địa chất, đất, rừng.Những năm sau đó ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khu vực này như: "Một sổ kết quà nghiên ciru về đắt cát biến Bắc Trung B ộ ” (1968); “Đất và vỏ phong hóa nhiệt đới ấm ” của V. Gần đây đã có các công trình nghiên cứu địa lý về khu vực ven biển, trong đó cũng có phần lãnh thổ của Quàng Bình nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ đề cập một cách khái quát chung đến địa lý tự nhiên Quảng Bình trong bối cảnh khu vực và cả nước. Trong giai đoạn mới đây, dặc biệt là từ khi Quảng Bình được tái lập (1989), để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế -xã hội cùa tinh và miền Trung, được sự quan tâm của nhà nước, Quảng Bình đã đầu tư cho một số công trình nghiên cứu địa lý như một số công trình nghiên cứu vùng gò đồi Quàng Bình và xây dựng các mô hình kinh tế cho một số địa điểm (như Sen Bàng - Bổ Trạch, Sáu Lán, Ư Bò - Ba Rền. Một số công trình nghiên cứu về vùng cát biển như '‘Sự cổ mỏi trường biến lấn ” cùa Nguyễn Văn Bẩy (1997), một số báo cáo về cát bay, cát chảy của các sở ban ngành.
về địa ỉý tự nhiên tổng hợp: trong dề tài nghiên cứu “Điều kiện tự nhiên, kinh tể x ã hội và phát triển tinh Quàng Bình” tập thể tác giả đã đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và phương hướng phát triển, làm cơ sở cho việc xây dựng phương hướng phát triển xã hội địa phương. Trong công trình "Địa lý tự nhiên dài cồn cút ven biển Nam Quảng Bình” (2000) [28], Trương Thị Tư tìm hiểu về n^uồn gốc hình thành và các đặc điểm địa lý tự nhiên của dải cát ven biển phía Nam Quảng Bình, nêu ra một số định hướng khai thác và sử dụng, các phương án cải tạo dải cồn cát ven biển nơi đây. 6 * Công trình ngliiên cứ u về huyện Quảng ¡Vinh Các công trình nghiên cứu về huyện Quảng Ninh còn rất ít, chủ yếu được lồng ghép với trong các công trình chung của tỉnh. Đáng chủ ý là công trình: “Nghiên cửu sự phân hóa lãnh tho tự nhiên, xác lập mô hình kình tế sinh thái nông hộ hợp lý phục vụ phát triển bền vững ở huyện Quảng Ninh, tinh Quảng Bình" [4] cùa tác aiả Trần Hải Châu.
Tóm lại, Quàng Bình nói chung và huyện Quảng Ninh nói riêng tuy có diện tích nhỏ nhưng tự nhiên lại đa dạng và phức tạp, đặc biệt là sự thay đổi địa hình từ các côn cát ven biển cho đến khu vực đồi thấp và khu vực núi giáp biên giới phía Tây. Sự thay đổi khí hậu từ Bắc vào Nam làm cho Quảng Bình trở thành khu vực chuyển tiếp gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống. Trên cơ sở các công trình nghiên cứu đã có cùng với việc nghiên cứu thực địa, xử lý các tài liệu ở địa phương, đề tài tiếp tục nghiên cứu về ĐKTN, KT-XH và môi trường khu vạrc ven biển huyện Quảng Ninh phục vụ PTBV từ đó đề xuất một số mô hình KTST hộ gia đình cho khu vực này. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7.
Ỷ nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ quy luật phân hoá đa dạng, phức tạp của tự nhiên nhiệt đới gió mùa Việt Nam nói chung, những đặc điểm đặc thù của khu vực ven biển huyện Quảng Ninh nói riêng đồng thời góp phần thể hiện được tiềm năng tự nhiên, TNTN, KT-XH lãnh thổ. Những vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện về mặt phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu sử dụng hợp lý TNTN theo hướng địa lý tự nhiên tổng hợp 7. Ỷ nghĩa thự c tiễn, những định hướng và giải pháp quản lý bền vừng tài nguyên thiên khu vực ven biển huyện Quảng Ninh được đề xuất, sẽ góp phần cho việc xác lập chiến lược phát triển bền vừng KT-XH, BVMT khu vực nghiên cứu. Cấu trú c của đề tài Nội dung đề tài được thực hiện trong 4 chương: C hương 1.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghiên cứu phát triển bền vững Chưoìig 2. Phân tích nguồn lực tự nhiên, kinh tế-xã hội và môi trường cho phát triển bền vững huyện Quảng Ninh C hư on g 3. Đặc điểm cảnh quan huyện Quảng Ninh C hương 4. Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển bền vững khu vực ven biển huyện Quảng Ninh 7 C H Ư Ơ N G 1.
C O SỞ L Ý L U Ậ N V È P H Á T T R IÉ N B È N V Ữ N G , Đ Á N H G IÁ C Ả N H Q U A N V À M Ỏ H ÌN H H Ệ K IN H T É S IN H T H Á I 1. Những vấn đề lý luận về tiếp cận địa lý tổng họp phục vụ phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường Nghiên cứu sử dụng lãnh thổ trên quan điểm tổng hợp dược tiến hành từ cuối thế kỷ XIX. Mờ đầu cho hướng nghiên cứu này là các công trình nehiên cứu của Đôcutsaev và sau đó là hàng loạt các nhà địa lý Xô Viết khác. Ở Việt Nam, từ những năm 60 cùa thế kỷ trước công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu tổng hợp lãnh thổ đã được triển khai ờ nhiều cấp với quy mô khác nhau.
Nghiên cứu tổng hợp lãnh thổ chính là NCCQ phục vụ phát triển kinh tế, đặc biệt trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên là bước đi đúng đẳn và mang lại nhiều lợi ích, không chì mang ý nghĩa kinh tế thuần túy mà còn đóng góp lớn cho công tác PTBV lãnh thổ. Nguồn gốc dầu tiên cùa học thuyết CQ bát đầu từ kinh nghiệm thực tiễn cùa nhân dân và sự phát triển của các khoa học tự nhiên bẳt đầu ít nhất vào giữa thế kỉ XVIII. Đocutsaev (1846-1903) dược coi là người sáng lập học thuyết CQ, những công trình nghiên cứu của ông thuộc cuối thế kỷ XIX, cảnh quan học trở thành một níựinh riêng tại Nga vào nhừng năm đầu thế kỷ XX. Becgơ (1913) xác định cành quan thiên nhiên như là một miền, trong đó đặc điểm địa hình, khí hậu, lóp phù thực vật, thổ nhưỡng hợp nhất với nhau tạo thành một thể toàn vẹn, thống nhất, cân đổi và lập lại một cách điển hình trong phạm vi đới ấy trên Trái đất.
Có nhiều quan niệm về CQ đã được đưa ra, quan niệm chung (cảnh quan = địa tổng thể các cấp), quan niệm kiểu loại và quan niệm cá thể, nhưng tựu chung lại có thể hiểu một cách chung nhất “CQ địa lý là một quần tụ có quy luật của các yếu tố CQ trong mồi quan hệ tác động tương ho lẫn nhau, (rong đó sự thay đổi của một yếu tố này sể kéo theo sự thav đổi của các yếu tổ khác ờ các mức độ khác nhau” [14]. Như vậy, CQ là đối tượng cơ sở của việc nghiên cứu lãnh thổ tự nhiên và TNTN, đồng thời là đơn vị lãnh thổ phát triển kinh tế cũng như phương hướng sử dụng hợp lý và tái tạo TNTN. Nghiên cứu CQ có ý nehĩa rất lớn đối với công tác ĐGTH tự nhiên lãnh thổ cho các mục đích ứng dụng thực tế bởi mỗi CQ lại có vai trò, chức năng riêng và mức độ phù hợp với từng mục đích sử dụng khác nhau. Nghiên cứu đặc điểm CQ khu vực nghiên cứu, sự phân hoá không gian, mối liên quan và tác động tương hỗ giữa 8 các hợp phần, các quá trình phát sinh, phát triển và biến đổi cùa CQ cho phép đưa ra những đánh giá ban đầu mang tính định tính về hướng sử dụng CQ khu vực nghiên cứu.
Đây là cơ sờ quan trọng cho các bước đánh giá định lượng CQ tiếp theo.