phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch cộng đồng Chƣơng 2: Thực trạng phát triển các mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Chƣơng 3: Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 4 van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1 Khái niệm du lịch và du lịch cộng đồng 1.1 Khái niệm du lịch 1.1 Du lịch Ở hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Do đó có những định nghĩa về du lịch khác nhau: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization– một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc), “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.
[8] Theo luật Du Lịch Việt Nam (2017), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.2 Khái niệm khách du lịch Có nhiều cách hiểu khác nhau về khách du lịch đứng ở trên các gốc độ khác nhau. Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), một số đặc trưng của du khách [8]: - Là người đi khỏi nơi cư trú của mình không theo đuổi mục đích kinh tế - Đi khỏi nơi cư trú từ 24h trở lên - Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến (30, 40, 50. dặm) tùy quan niệm của từng nước. Theo luật du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.2 Khái niệm du lịch cộng đồng: 1.
Cộng đồng Cộng đồng là một nhóm xã hội của các cá thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. 5 van Cộng đồng dân cư là toàn thể những người cùng sinh sống trong một cộng đồng lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính, gắn bó thành một khối, giữa họ có sự liên kết và hợp tác với nhau để cùng thực hiện lợi ích của mình và lợi ích chung của xã hội. Cộng đồng là một khái niệm không định hình, thường được định nghĩa là một nhóm hay một đơn vị có chung một số đặc điểm hay mối quan tâm nhất định, ví dụ như cộng đồng nông nghiệp, cộng đồng thành thị. Trong đó, yếu tố không gian đóng vai trò ở mức độ khác nhau.
Có tối thiểu 03 cách hiểu khác nhau về một cộng đồng có không gian của nó. Cách thứ nhất, định nghĩa cộng đồng là một tập mà không gian đóng vai trò chủ đạo, ví dụ như một khu vực địa lý. Cách thứ hai, định nghĩa cộng đồng như là một nhóm có chung mối quan tâm mà ở đó không gian đóng vai trò rất nhỏ, ví dụ như cộng đồng các doanh nghiệp, cộng đồng người làm nông nghiệp. Cách thứ ba, coi cộng đồng là một đơn vị có thể tự ra quyết định riêng cho chính họ, không nhất thiết phải có yếu tố không gian.
Cách này bao hàm cả hai định nghĩa ban đầu nhưng nhấn mạnh đặc điểm, một cộng đồng có thể tự đưa ra và thực hiện quyết định nào đó. Nói chung định nghĩa này nhắm tới cá thực thể chính trị như một làng, xã. mặc dù nó vẫn có thể bao gồm cả một khu vực thương mại hay một khu vực dân cư. Du lịch cộng đồng Trong vài thập niên gần đây, du lịch đã thực sự trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, góp phần to lớn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng trong GDP đất nước và làm tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung, tạo nguồn lực cho cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Du lịch phát triển mang lại cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho người dân có liên quan trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động du lịch, làm tăng cơ hội giao lưu văn hóa, chuyển giao kiến thức và hiểu biết của người dân. Thông qua hoạt động du lịch, một số cộng đồng ở những vùng sâu, vùng xa đã phá thế biệt lập, sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn vốn có trước đây còn “nằm ngủ” thành nguồn lực phát triển, tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho dân cư cả về vật chất và tinh thần. Du lịch cộng đồng (Community Based Tourism) được định nghĩa tại Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) [7]. Theo đó: 6 van Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.
Định nghĩa phổ biến về du lịch cộng đồng là: Du lịch cộng đồng mang lại cho du khách những trải nghiệm về cuộc sống địa phương, trong đó các cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch và thu được các lợi ích kinh tế - xã hội từ các hoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương. Hiện nay du lịch cộng đồng đang được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích phát triển kinh tế bền vững nhất cho bản địa. Du lịch cộng đồng không chỉ giúp người dân bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, mà còn là dịp để bảo tồn và phát huy những nét văn hoá độc đáo của địa phương. Phát triển du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng hiện nay là loại hình du lịch hấp dẫn phát triển mạnh trên toàn cầu và mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Theo đánh giá của các chuyên gia, trong những năm qua du lịch cộng đồng có sự phát triển nhanh, có nhiều đột phá trong thu hút khách du lịch cũng như xây dựng các sản phẩm du lịch mới, không chỉ đóng góp trực tiếp vào việc định hướng phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của từng cộng đồng địa phương, mà còn nâng cao đời sống cho người dân địa phương. Phát triển du lịch bền vững Du lịch bền vững là hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương. “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mĩ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống” [8].
7 van Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai” [7]. Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo tính bền vững của ba bộ phận: môi trường tự nhiên, kinh tế và văn hoá. Mỗi bộ phận đều có tầm quan trọng ngang nhau đối với sự tồn tại và phát triển của ngành du lịch. - Bền vững về môi trường tự nhiên: mối quan tâm về chất lượng môi trường sống đang trở nên sâu rộng trên phạm vi toàn cầu do môi trường sinh thái đang bị xuống cấp một cách chóng mặt.
Rừng bị phá huỷ, nước và không khí bị ô nhiệm, nước ngọt trở nên quý hiếm, chim chóc và những loài động vật khác có nguy cơ tuyệt chủng. Tính bền vững của môi trường tự nhiên vô cùng quan trọng không chỉ đối với ngành du lịch mà còn đối với sự tồn tại của loài người. - Bền vững về văn hoá: sự phá huỷ môi trường tự nhiên thường đi đôi với sự phá huỷ môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bị phá vỡ khi nền văn hoá địa phương thay đổi mạnh mẽ do tác động của những nhân ốc mới hay các tác động ngoại cảnh.
Lẽ tự nhiên là các nền văn hoá đều biến đổi dần dần và hoàn thiện theo thời gian. Một trong những nhân tố quan trọng có tác động biến đổi văn hoá là quá trình toàn cầu hoá với hệ quả là các quốc gia ngày càng liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ hơn về kinh tế, thương mại, đầu tư, bị tác động bởi quá trình toàn cầu hoá, các quốc gia trở nên giống nhau hơn về mặt văn hoá. Sự có mặt của du khách với lối sống, thói quen và hành vi ứng xử của họ sẽ làm thay đổi mạnh mẽ suy nghĩ, thái độ và lối sống của người dân địa phương. Do đó việc giáo dục du khách, người dân địa phương và tất cả các đối tượng tham gia vào các hoạt động du lịch về tầm quan trọng của việc bảo tồn các thói quen, phong tục, lối sống và truyền thống văn hoá là rất cần thiết.
- Bền vững về kinh tế: để đảm bảo phát triển du lịch bền vững, việc tạo công ăn việc làm với nguồn thu nhập ổn định và được phân bổ công bằng cho các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch là thiết yếu. Lợi nhuận từ hoạt động du lịch cần được phân chia rộng rãi, đặc biệt cho cư dân địa phương bởi đây là những đối tượng hiểu rõ nhất về cách thức bảo vệ tài sản của địa phương mình.