Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU & VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. GIỚI THIỆU CHUNG Chương này giới thiệu đặc điểm tự nhiên (thủy văn, tài nguyên, môi trường) và đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu (được đề cập trong mục 1.3 giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, trong đó nêu rõ: các nghiên cứu liên quan về chất lượng nước lưu vực sông ở Việt Nam nói chung và lưu vực sông Sài Gòn nói riêng và công tác bảo vệ nguồn nước sông Sài Gòn của các tỉnh thành trên lưu vực trong thời gian qua. Cuối cùng là kết luận (mục 1. TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm tự nhiên Lưu vực sông Sài Gòn có vị trí địa lý nằm trong khoảng tọa độ từ 10o40’ đến 12o00’ vĩ Bắc và từ 106o10’ đến 106o40’ kinh Đông. Lưu vực sông Sài Gòn có tổng diện tích là 4.717km2, bao gồm một phần đất của tỉnh Tây Ninh, một phần đất của tỉnh Bình Dương, Bình Phước và phần lớn đất của thành phố Hồ Chí Minh. Đặc điểm thủy văn sông Sài Gòn Lưu vực có diện tích khoảng 4.717 km2, khá bằng phẳng và ít đồi núi (nếu kể đến Nhà Bè). Bên dưới sông Thị Tính, lưu vực sông Sài Gòn không còn rõ ràng nữa vì còn nhiều dòng chảy nhỏ [16].
Lượng mưa trong lưu vực biến đổi từ 1. Các khúc uốn của sông phát triển ở vùng đồng bằng vốn có nguồn gốc là sông Cửu Long cổ. Lưu vực sông trên ngã ba Thị Tính tương đối ít dân cư nhưng ở phía hạ lưu mật độ dân cư tương đối đông đúc. Một phần lưu vực sông Sài Gòn về phía hạ lưu chịu ảnh hưởng của thủy triều và bị nhiễm mặn vào mùa khô.
Nước lũ cũng xuất hiện ở vùng hạ lưu này, nhưng phần lớn do sông Đồng Nai gây ra nên không đe dọa nhiều đến khu vực hạ lưu sông Sài Gòn. Đặc biệt, trận lũ lịch Đề tài: Nghiên cứu thiết lập mạng quan trắc chất lượng nước tối ưu trên sông Sài Gòn đảm bảo an toàn nước cấp 9 Luận văn cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường sử năm 1952 có mực nước tại cầu Phú Cường là +1,62 m. Tại ngã ba sông Sài Gòn, Thị Tính, cầu ông Cộ là +2,2 m. Mực nước bình quân ngày càng lớn vào thời kỳ triều cường và nhỏ vào thời kỳ triều kém; có xu thế xuống thấp từ tháng 5 đến tháng 7 và lên cao từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm [16].
Do ảnh hưởng thủy triều biển Đông, nước sông Sài Gòn có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống trong một ngày đêm. Biên độ thủy triều tại cửa sông rất cao (2,5 - 4,0 m). Thủy triều có thể xâm nhập vào đất liền thông qua các nhánh sông và hệ thống kênh rạch chằng chịt. Do nằm trên địa hình thấp (cao độ thấp hơn 2,5m), chịu ảnh hưởng của biên độ sóng cao nên hầu hết các sông rạch tại phía Nam thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây Bà Rịa Vũng Tàu đều chịa ảnh hưởng mặn.
Thủy triều còn ảnh hưởng đến tận Bình Dương (Thủ Dầu Một) trên sông Sài Gòn. Điều này không chỉ gây ra mặn hóa nước bề mặt, nước ngầm mà còn gây bất lợi cho quá trình tự làm sạch của các sông. Nguyên nhân là do tác động qua lại giữa dòng chảy của sông và thủy triều liên tục trong ngày. Với nước sông Sài Gòn theo thủy triều, nước thường ròng sát vào ban đêm (xa bờ từ 10 – 15m) và lớn nhất vào ban ngày.
Lưu lượng của sông Sài Gòn phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa trên lưu vực. Lưu lượng sông thấp vào mùa khô (tháng 3, 4) và cao vào mùa mưa (nhất là tháng 8, 9). Hiện nay, chế độ thủy văn của sông Sài Gòn đã được thay đổi nhiều do ảnh hưởng của các công trình thủy lợi ở thượng lưu của sông [16].1 cho biết dự báo lưu lượng trung bình tháng của sông Sài Gòn qua các giai đoạn. Đề tài: Nghiên cứu thiết lập mạng quan trắc chất lượng nước tối ưu trên sông Sài Gòn đảm bảo an toàn nước cấp 10 Luận văn cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường Bảng 1.1 Dự báo lưu lượng trung bình tháng của sông Sài Gòn hiện tại, giai đoạn 2010 và 2020 Lưu lượng trung bình các tháng trong năm (m3/s) Tháng Hiện tại (có sự điều tiết của hồ Năm 2010 và 2020 (có sự điều tiết của Dầu Tiếng) hồ Dầu Tiếng, hồ Phước Hòa) 1 33,2 45,06 2 34,25 47,86 3 33,0 44,04 4 32,88 44,66 5 29,34 37,05 6 28,31 43,90 7 28,71 57,52 8 38,51 58,87 9 53,62 86,68 10 58,85 90,15 11 36,2 36,89 12 30,27 37,68 Nguồn: Trích từ tài liệu tham khảo [16] 1.
Tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm môi trường Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai nói chung và lưu vực sông Sài Gòn nói riêng được biết là lưu vực có tài nguyên khoáng sản phong phú bao gồm vàng, sắt, thiếc, kẽm… bắt đầu được quan tâm và khai thác trong thời gian gần đây [25]. Hệ thống rừng đầu nguồn đóng vai trò rất quan trọng đối với nguồn nước ở lưu vực sông Sài Gòn. Rừng đầu nguồn có ý nghĩa lớn trong việc duy trì nguồn nước lưu vực sông Sài Gòn vào mùa khô và chống lũ quét vào mùa mưa, đồng thời có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ nguồn gen quý và là nơi bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái nhiệt đới. Tuy nhiên, hiện nay rừng càng bị tàn phá nặng nề, không đảm bảo chức năng phòng hộ của rừng đầu nguồn.
Về số lượng, 89% các loại thực bì che phủ rừng phòng hộ là các loại kém tác dụng về mặt giữ nước, dưới tán rừng thảm mục ít, làm giảm khả năng điều hoà nguồn nước trong mùa khô cho sông Sài Gòn Vùng châu thổ của sông Sài Gòn được biết đến là nơi sinh sản của các loài thuỷ sản, trong đó sản phẩm từ thuỷ sản đóng góp một phần đáng kể vào kinh tế địa Đề tài: Nghiên cứu thiết lập mạng quan trắc chất lượng nước tối ưu trên sông Sài Gòn đảm bảo an toàn nước cấp 11 Luận văn cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường phương [25]. Ô nhiễm nước vùng cửa sông sẽ đe doạ nghiêm trọng tới cuộc sống ngư dân vùng biển. Đặc điểm kinh tế - xã hội Phân bố dân cư trên toàn lưu vực sông Sài Gòn không đồng đều, có sự khác biệt, mất cân bằng giữa các địa phương, giữa khu vực thành thị và nông thôn. Mật độ dân số trung bình lưu vực là 296 người/ km2, riêng TP.
Hồ Chí Minh có mật độ dân số là 2.811 người/ km2 [25]. Trên lưu vực sông đang diễn ra quá trình đô thị hoá với tốc độ cao. Tốc độ gia tăng dân số đô thị trung bình trên toàn lưu vực là 5,5%, trong đó, tốc độ tăng dân số đô thị cao nhất là tại tỉnh Bình Dương lên đến con số 15,6%. Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương là những tỉnh có tốc độ đô thị hoá cao.
Mặc dù tốc độ đô thị hoá cao nhưng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, bệnh viện, cấp nước, … phát triển không tương xứng với quá trình này. Lưu vực sông Sài Gòn nằm trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai là khu vực năng động nhất trong phát triển kinh tế của cả nước với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, bao gồm hầu hết các lĩnh vực sản xuất hiện nay. Các tỉnh Tây Ninh, Long An, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh còn nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đóng góp đến 40% mức thu cho ngân sách Nhà nước.
Đây là một trong những vùng kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững, là vùng động lực tăng trưởng kinh tế của cả nước. Hiện nay trong lưu vực có gần 60 khu công nghiệp và khu chế xuất đang hoạt động, tập trung chủ yếu ở 6 tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và nằm ở phía hạ lưu của lưu vực. Các địa phương khác đã hình thành một số khu công nghiệp nhưng tỷ lệ lấp đầy diện tích còn rất thấp. Tỷ trọng ngành công nghiệp trên lưu vực chiếm khoảng 58% GDP ngành công nghiệp cả nước.
Tổng diện tích đất nông nghiệp sử dụng cho trồng trọt khoảng 1,45 triệu ha (chiếm 24,3 tổng diện tích). Miền Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên là vùng trọng Đề tài: Nghiên cứu thiết lập mạng quan trắc chất lượng nước tối ưu trên sông Sài Gòn đảm bảo an toàn nước cấp 12 Luận văn cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường điểm phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày: cao su, cà phê, chè, điều, tiêu, mía, … và các loại cây màu: bắp, củ mì, đậu nành, đậu phộng… Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, hoạt động chăn nuôi trong lưu vực rất phát triển. Số lượng gia súc tăng rất nhanh: năm 2001 là 2,7 triệu con, đến năm 2005, số lượng đạt gần 4,4 triệu con. Khu vực có tiềm năng lớn về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản với nhiều loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh, bống mú, cá chìa vôi… Tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của các địa phương trên lưu vực là khoảng 71.800 ha, sản lượng thuỷ sản nuôi khoảng 449.
Giao thông vận tải thuỷ: theo thống kê, đến nay, tập trung tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 37 cảng lớn nhỏ với khả năng tiếp nhận các tàu từ 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU – NƯỚC CẤP VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC CẤP 1. Các nghiên cứu liên quan Phía thượng nguồn sông Sài Gòn là hồ Dầu Tiếng xây dựng tháng 4/1981 và bắt đầu vận hành năm 1985. Hồ có diện tích lưu vực khoảng 2700 km2 trong đó phần trên lãnh thổ Campuchia là 316km2.
Diện tích mặt hồ ứng với mực nước dâng bình thường là 270 km2 và 110km2 ứng với mực nước chết [11]. Chất lượng nước sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng của điều tiết nước từ hồ Dầu Tiếng ở thượng nguồn và ảnh hưởng triều ở hạ nguồn nên diễn biến khá phức tạp. Chất lượng nước sông Sài Gòn vốn diễn biến rất phức tạp và ngày càng được quan tâm. Nhất là khi Nhà máy cấp nước Tân Hiệp đi vào hoạt động từ năm 2004.
Nhà máy có công suất thiết kế 300.000 m3/ngày đêm giai đoạn 1 và nâng công suất lên đến 1.000 m3/ngày đêm cho các giai đoạn tiếp theo song cho đến nay chưa hoạt động hết công suất thiết kế do những thay đổi bất thường về chất lượng nước.