Lời mở đầu, Kết bài và Danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu lý thuyết địa tô và lợi thế trong lập quy hoạch sử dụng đất Chƣơng 2: Lý thuyết địa tô và lợi thế trong lập quy hoạch sử dụng đất Chƣơng 3: Thực trạng công tác lập quy hoạch sử dụng đất tại tỉnh Nghệ An. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác lập quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở vận dụng lý thuyết địa tô và lý thuyết lợi thế trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT ĐỊA TÔ VÀ LỢI THẾ TRONG LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1. Tổng quan nghiên cứu nƣớc ngoài Trong cuốn sách “Location and Land Use: Toward a General Theory of Land Rent” (1964), William Alonso đã xây dựng dựa trên mô hình Thunen để giải thích các biến đổi trong sử dụng đất đô thị.
Ông đã cố gắng áp dụng yêu cầu tiếp cận tới trung tâm thành phố cho các loại hình sử dụng đất nhƣ nhà ở, thƣơng mại và công nghiệp. Theo lý thuyết của ông, mỗi loại hình sử dụng đất đều có một mức địa tô hoặc một đƣờng cong thể hiện mức địa tô khác nhau. Đƣờng cong đặt ra địa tô tối đa cho bất kỳ loại hình sử dụng đất nào sẽ tƣơng ứng cho một vị trí cố định nào đó. Các hộ gia đình, các cơ sở thƣơng mại và các ngành công nghiệp cạnh tranh nhau cho các vị trí theo từng đƣờng cong của địa tô và yêu cầu của họ về việc tiếp cận trung tâm thành phố.
Tất cả các hộ gia đình đều cố gắng chiếm đƣợc nhiều đất nhất có thể trong khi vẫn ở trong các yêu cầu tiếp cận của họ. Do đất đai rẻ hơn ở phía ngoài thành phố nên các hộ gia đình có ít nhu cầu về khả năng tiếp cận đối với trung tâm thành phố sẽ nằm ỏ khu vực này, và đó thƣờng là những gia đình giàu có. Các hộ nghèo cần có thêm khả năng tiếp cận với trung tâm thành phố, do đó, các hộ gia đình này sẽ nằm ở gần trung tâm, và cạnh tranh với các cơ sở thƣơng mại và công nghiệp. Điều này sẽ tạo ra một hệ thống sử dụng đất tách biệt, bởi vì các hộ gia đình sẽ không phải trả giá đất thƣơng mại và công nghiệp cho các vị trí trung tâm.
Trong bài báo “The classical base of modern rent theory” của Conway L.Lackman (1976) đã đề cập đến lý thuyết địa tô của Adam Smith. Ông đã nói rằng: “địa tô là độc quyền giá”. Số lƣợng của sản phẩm và đất đai là có hạn và những ngƣời sở hữu có thể trích một số thứ từ ngƣời tiêu dùng để trả cho nhân công hoặc đầu tƣ thêm vào tƣ bản.Smith cũng đã chỉ ra địa tô chính là thặng dƣ. Nếu giá của việc sản xuất đất đai là lớn hơn chi phí sản xuất, thì đó chính là thặng dƣ.
Và thặng dƣ này chính là địa tô. Và ngƣợc lại, nếu giá mà không lớn hơn chi 6 phí, thì đó không thể là địa tô. Mức giá đƣợc quyết định bởi sản xuất sẽ phụ thuộc vào nhu cầu của nó.Smith, địa tô có sự khác biệt với tiền lƣơng và lợi nhuận. Tiền lƣơng và lợi nhuận là chi phí cho nên có thể xác định mức giá cao hay thấp.
Nhƣng địa tô cao hay thấp là phụ thuộc vào kết quả của sức sản xuất cao hay thấp của đất đai. Trong bài báo “Comparative Advantage and Trade Patterns” đƣợc viết bởi Udo Broll và Michael Gilroy (1986) đã chứng minh mô hình thƣơng mại quốc tế đƣợc xác định bằng lý thuyết lợi thế so sánh. Trong lý thuyết thuần tuý về thƣơng mại quốc tế, nền tảng của trao đổi hàng hoá dựa trên sự khác biệt về giá tƣơng đối tự chủ. Lý thuyết về lợi thế so sánh cố gắng xác định chính xác nền tảng này bằng cách xây dựng mối quan hệ có hệ thống giữa mô hình lợi thế so sánh và sự kết hợp của thƣơng mại quốc tế đƣợc xác định bằng những lợi thế so sánh.
Trong bài báo “Urban land rent theory: A regulationist perspective” của Jager.J (06/2003) đã đề cập đến một quan điểm điều chỉnh trong lý thuyết địa tô đất đô thị, để rồi từ đó cố gắng xây dựng một cách có hệ thống một cái nhìn tổng hợp về lý thuyết này. Ông cho rằng, trong khi vốn bất động sản đã trở thành động lực trong phân tích sự phát triển đô thị, thì lý thuyết địa tô đất đô thị lại có những tiến bộ rất hạn chế trong một thập kỷ qua. Những tiến bộ trong lý thuyết phê bình, suy nghĩ về không gian và lý luận biện chứng góp phần vào việc phát triển một quan điểm mới về địa tô. Địa tô đƣợc khái niệm hoá nhƣ một lý thuyết tầm trung.
Việc định hình lại lý thuyết về địa tô từ một quan điểm điều chỉnh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh thể chế để từ đó, hiểu rõ về địa tô và vai trò của nó đối với đô thị. Nhƣ vậy, lý thuyết địa tô là một công cụ hữu ích để cung cấp một quan điểm kinh tế chính trị tổng hợp cho các phân tích hiện tƣợng đô thị. Điều này đƣợc minh hoạ ngắn gọn trong trƣờng hợp của Vienna và Montivideo. Trong bài viết “Local comparative advantage: Trade costs and the pattern of Trade” trong hội thảo nghiên cứu nền kinh tế thế giới tại trƣờng đại học Michigan của Alan V.Deardorff (27/02/2004) đã chỉ ra là làm nhƣ thế nào để mô 7 hình thƣơng mại có thể thay đổi với chi phí thƣơng mại.
Sau đó, bài viết đƣa ra các sự điều chỉnh lại của quy luật lợi thế so sánh với mô hình Ricardo và chi phí thƣơng mại. Khi có chi phí thƣơng mại, chẳng hạn nhƣ vận chuyển hoặc các chi phí khác, mô hình thƣơng mại có thể không đƣợc mô tả bằng các biện pháp thông thƣờng về lợi thế cạnh tranh, mà chỉ đơn giản là so sánh chi phí của một quốc gia hoặc giá tự chủ với những nƣớc trên thế giới. Thay vào đó, một sự so sánh tốt hơn sẽ tính đến chi phí thƣơng mại. Bài viết cũng đã sử dụng các kết quả của Deardorff (1980), Dixit và Norman (1980) để từ đó rút ra hai mối tƣơng quan có liên quan đến các mô hình thƣơng mại với các biện pháp lợi thế so sánh có tính đến giá cả tự chủ và chi phí thƣơng mại.
Cuối cùng, bài viết đã xem xét các giải pháp cho một mô hình thƣơng mại với sự khác biệt giữa các sản phẩm để làm cho vai trò tiềm năng của chi phí thƣơng mại rõ ràng hơn, cả về đại số lẫn đồ hoạ. Với sự khác biệt về sản phẩm theo từng quốc gia hoặc bởi các doanh nghiệp, thƣơng mại ròng trong một ngành công nghiệp, cả hai bên và trên toàn cầu, phụ thuộc vào chi phí sản xuất và thƣơng mại của cả nƣớc so với chỉ số chi phí cho các quốc gia khác. Trong chƣơng 3 “The Von Thunen model and land rent information” đƣợc viết bởi Masahisa Fujita and Jacques-Francois Thisse (01/03/2012) đã đề cập đến lý thuyết địa tô của Von Thunen để rồi từ đó giải thích tại sao địa tô hay giá thuê đất tại các thành phố lại cao hơn khu vực nông thôn. Ông đã chỉ ra rằng mỗi vị trí đều có một đặc điểm riêng nhƣ điều kiện đất đai, vị trí địa lý hay những thứ tƣơng tự khác, cho nên, cả địa tô và nhu cầu sử dụng đất đều khác nhau tuỳ theo các đặc điểm này.
Trong số đó, điều quan trọng nhất đối với các lý thuyết gia đó chính là sự khác biệt về chi phí vận chuyển qua không gian. Mặc dù, lý thuyết địa tô của Ricardo đã tập trung nhiều vào sự trình bày chi tiết về địa tô, nhƣng Von Thunen lại xây dựng một lý thuyết tập trung vào sự chênh lệch chi phí vận chuyển giữa các địa điểm. Vì vậy, tác giả đã chỉ ra giá đất tại bất cứ địa điểm cụ thể nào cũng đều phản ánh sự gần gũi với thị trƣờng: càng gần chợ thì giá thuê đất càng cao. Trong bài báo: “The Ricardian rent theory: an overview” của Christian Bidard (21/10/2014) đã cho đọc giả một cái nhìn tổng quan về lý thuyết địa tô của 8 Ricardo.
Trong 5 bài luận đƣợc công bố bởi Malthus, Torrens, West and Ricardo vào tháng 2 năm 1815 đã tạo thành một bƣớc quyết định trong sự phát triển của lý thuyết địa tô. Câu hỏi về đất đai và tiền thuê đã đƣợc A.Smith (cũng bởi Anderson) phân tích, chính là cốt lõi của cuộc đấu tranh giành quyền lực kinh tế và chính trị giữa các chủ đất và giai cấp tƣ bản đang tăng lên, và các cuộc thảo luận về luật ngũ cốc tại Quốc hội đã kích hoạt sự quan tâm của các nhà kinh tế về địa tô và các chính sách của nó. Ricardo đã sử dụng lý thuyết của mình nhƣ là một lời kêu gọi ủng hộ tự do thƣơng mại, đó là kế hoạch thuê và cải thiện tỷ lệ lợi nhuận chung. Ricardo đã nắm giữ một vị trí tƣơng tự trong thuyết Nguyên tắc(1817), trong đó ông đã sử dụng một lý thuyết chính xác hơn về giá trị và mô tả quá trình mở rộng và thâm canh, canh tác chi tiết hơn.
Ricardo đã chấp nhận lý thuyết lao động về giá trị cho hàng hoá tái sản xuất và sử dụng tài sản mà phần vốn cận biên không trả tiền thuê để mở rộng sản lƣợng của họ cho các sản phẩm nông nghiệp nhƣ giá trị lao động của hàng hoá đƣợc xác định bằng các phƣơng pháp công nghiệp và phƣơng pháp nông nghiệp cận biên. Những giá trị này đƣợc biết đến với điều kiện sản xuất trên các vùng đất cận biên (những khu vực đã đƣợc canh tác đầy đủ vì chúng có chất lƣợng tốt hơn so với vùng đất cận biên) xác định giá thuê từ đất nhƣ là các chi phí khác biệt. Giá ngũ cốc độc lập với điều kiện sản xuất, cho nên, chủ sở hữu những vùng đất tốt nhất có thể đòi một khoản tiền thuê từ nông dân. Trong bài nghiên cứu “Absolute advantage and international trade” của Stergios A.Seretis và Persefoni V.Tsaliki (25/09/2015) đã cung cấp một nội dung thực tiễn cho cách tiếp cận thƣơng mại quốc tế dựa trên nguyên tắc của lợi thế tuyệt đối và đã cho thấy sự khác biệt trong năng suất có thể làm tăng sự chuyển giao giá trị đối với các đơn vị vốn có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất.
Cách tiếp cận của tác giả là dựa vào lý thuyết cổ điển về giá trị và sự cạnh tranh của Marxian.