CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ XUẤT KHẨU HÀNG NGUYÊN CONTAINER (FCL) BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.1 Khái quát chung về xuất khẩu hàng nguyên công bằng đường biển 1.1 Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu hàng nguyên công bằng đường biển - Khái niệm về hoạt động nhập xuất hàng hoá được hiểu như sau: o Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật - Hàng nguyên công: (FCL) o FCL là viết tắt của cụm tiếng Anh “Full Container Load” o Là hàng được để trong container mà không phải nhập với đơn hàng khác. - Vận tải đường biển: o Là hình thức sử dụng phương tiện kết hợp cùng các cơ sở hạ tầng đường biển để vận chuyển hàng hoá. Thông thường, phương tiện thường dùng chính là tàu thuyền, còn cần cẩu, xe cẩu tự hành là các phương tiện đóng vai trò xếp dỡ hàng hoá. Cảng biển, cảng trung chuyển tàu thuyền là hệ thống cơ sở hạ tầng đường biển, phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá.2 Đặc điểm của các khái niệm liên quan đến xuất khẩu hàng nguyên công bằng đường biển: Xuất khẩu: + Xuất khẩu giúp những quốc gia bán dịch vụ và tài nguyên để người dân được trực tiếp sản xuất hoặc sản xuất một cách tốt hơn và rẻ hơn so sánh với sản xuất ngoài nước.
Những mặt hàng, tài nguyên này được xuất khẩu thông qua các tổ chức hay quốc gia nước ngoài sẽ được tận dụng nhằm sản xuất thêm nhiều sản phẩm khác thay vì được bán trực tiếp đến người dùng cuối cùng + Hoạt động xuất khẩu phải tuân thủ theo các chuẩn mực và quy tắc chung nhất của quốc tế. + Hoạt động xuất khẩu xảy ra trên phạm vi rộng lớn kể cả ở thời điểm lẫn cự li + Hoạt động xuất khẩu xảy ra trên nhiều phương diện và giữa các hoàn cảnh với mục đích sau cùng là mang lại lợi nhuận ở mỗi nước Hàng nguyên công ( FCL): + Được thiết kế cho những chuyến tàu vận chuyển hàng hoá đại dương của hàng hoá do một quốc gia xuất hay nhập có dùng tên của một Container vận tải biển chuyên biệt (thông thường là một Container 20 feet hoặc 40 feet). 3 + Container vận chuyển hàng hoá đường biển phải được in và dấu ở đầu và tiếp theo sẽ được vận chuyển với sự phối hợp của đường biển, đường sắt và/hoặc đường bộ đến cuối. Vận tải đường biển: + Khả năng chở những lượng hàng nặng gấp 2-3 lần so với đường bộ hoặc đường hàng không.
+ Chuyên chở hầu hết mọi chủng loại hàng hoá + Chi phí vận chuyển thấp + Có tính chất ổn định cao do hiếm khi gặp va đập bởi các chuyến tàu + Tốc độ đi của phương tiện đường biển chậm nên thời gian vận chuyển sau 4 – 5 ngày tăng thêm, trong khi đó đường sắt và đường bộ cần hơn 1 ngày còn đường hàng không mất từ 1 đến 2 giờ rưỡi. + Một số dạng thủ tục trong vận tải đường biển phức tạp + thuộc khá nhiều vào điều kiện khí hậu, môi trường tự nhiên 1.3 Các vai trò có liên quan đến xuất khẩu hàng nguyên công bằng đường biển - Xuất khẩu: + Xuất khẩu tạo ra sự đổi mới công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển nhảy vọt của sản xuất nội địa nhằm giảm giá thành và chi phí, tạo ra sự đồng đều về mức độ phát triển trong khu vực. + Xuất khẩu giúp dịch chuyển mô hình kinh tế đến nền kinh tế khác + Xuất khẩu tạo điều kiện cho nhiều bên cùng có cơ hội phát triển tốt + Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ để cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, khai thác tối ưu sản xuất trong nước - Xuất khẩu tạo ra các nền tảng kinh tế kĩ thuật để phát triển nhanh khả năng sản xuất trong nước. Nói một cách khác, xuất khẩu là cơ hội tạo ra tri thức về kĩ thuật và công nghệ cao mới nhất ở bên ngoài - Qua xuất khẩu, việt nam sẽ tham dự cuộc đua trên thị trường quốc tế bằng giá thành và chất lượng.
Cuộc đua này bắt buộc phải điều chỉnh cơ cấu sản xuất cho thích ứng với yêu cầu thị trường. - Xuất khẩu cũng buộc mỗi công ty cần tự thay đổi và kiện toàn hệ thống tổ chức sản xuất, quản lý, nâng cao năng suất lao động để hạ giá thành. - Xuất khẩu tạo ra việc làm và cải thiện cuộc sống người dân. Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng nhiều triệu sức lao động và tạo ra nguồn tiền có thể nhập vật dùng cần thiết cho cuộc sống của người dân.
4 - Xuất khẩu là cơ hội nhằm tăng cường và mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại của việt nam. Xuất khẩu và những quan hệ kinh tế đối ngoại khiến các nền kinh tế gắn kết chặt chẽ với thị trường lao động quốc tế. Do hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn những ngành kinh tế đối ngoại kia cho nên đã giúp mối quan hệ song phương phát triểnHàng nguyên công (FCL): o Hàng nguyên công (FCL) sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so với hàng gộp (LCL) o Quá trình vận sẽ tiện lợi hơn và ít tốn nhiều thời gian hơn o Ít rủi ro với hàng hoá vì hàng là hàng nguyên lô, hạn chế hư hỏng, nhiễm mùi, và hạn chế nhiễm mùi so với hàng gộp (LCL) - Vận tải đường biển: + Vận tải biển là phương tiện hiệu quả nhất cho vận chuyển hàng hoá liên quốc gia. Đường biển được coi như con đường duy nhất thích hợp với mọi chủng loại hàng, giá cả trên thị trường nên vận tải đường biển có vai trò ảnh hưởng vô cùng to lớn trong xuất nhập khẩu, giao thương hàng hoá nội địa và thế giới.
+ Vận chuyển hàng hoá đường biển hiện đang là một trong những ngành mũi nhọn của Việt Nam đã thu về khá nhiều thành tựu quan trọng. + Mở thêm nhiều cơ hội việc làm nhằm phục vụ tốt cầu xin việc của nhiều lao động trong thời gian qua, xử lý hiệu quả các vấn nạn "nhức nhối" của đất nước như nghèo đói, bệnh tật, góp phần tạo ra diện mạo hoàn toàn mới cho nhân dân trong cuộc sống và làm việc. + Vận tải biển cung cấp nhiên liệu cho các ngành công nghiệp, thậm chí vận chuyển hàng hoá đi buôn bán với nơi khác. Là nền tảng giúp tăng trưởng, thúc đẩy phát triển của các ngành, từ đó tạo ra thị trường lớn cho lĩnh vực kinh doanh trong ngoài nước.4 Các hình thức Xuất khẩu liên quan đến xuất khẩu hàng nguyên công bằng đường biển - Xuất khẩu trực tiếp: + Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ do bên mua và bên bán trực tiếp đàm phán, thoả thuận, thương thảo các quyền của mỗi bên đúng với luật pháp của từng nước mà bên đã thực hiện ký kết hợp đồng.
Xuất khẩu trực tiếp được tiến hành tương đối dễ dàng. Hoạt động xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu riêng 5 biệt của một doanh nghiệp xuất khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường trong và ngoài nước, tính đủ mọi chi phí bảo đảm kinh doanh có lời theo đúng chủ trương, chính sách pháp luật của Việt Nam cũng như thế giới. Đối với hoạt động xuất khẩu tự doanh các doanh nghiệp không có sự hỗ trợ và phải tự tiến hành mọi nghiệp vụ của hoạt động xuất khẩu như nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, lựa chọn hình thức giao dịch cho đến khi ký kết và thực hiện hợp đồng. Doanh nghiệp phải tự bỏ vốn ra trang trải mọi chi phí cần thiết trong hoạt động kinh doanh và được nhận lại tiền lợi nhuận thu được cũng sẽ phải tự gánh chịu hậu quả nếu hoạt động đó thua lỗ.
Khi xuất khẩu tự doanh các doanh nghiệp được nhập kim ngạch xuất khẩu và khi tiêu thụ hàng xuất khẩu doanh nghiệp phải nộp thuế doanh thu hoặc thuế vat. Thông thường các doanh nghiệp chỉ cần có một hợp đồng xuất khẩu với nước ngoài. Đặc điểm: Được tiến hành rất nhanh. Bên xuất khẩu phải nghiên cứu thị trường, tìm đối tác để ký kết hợp đồng rồi thực hiện theo đúng hợp đồng, nghiên cứu khâu vận chuyển,.
tất cả những chi phí có ảnh hưởng việc tiêu thụ hàng hoá như thuế xuất khẩu. - Xuất khẩu uỷ thác: Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là hoạt động xuất khẩu phát sinh khi một doanh nghiệp hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh các sản phẩm xuất khẩu do không đảm bảo được như khả năng thanh toán, điều kiện hợp tác kinh doanh. nên đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch thương mại tiến hành xuất khẩu hàng hoá theo nhu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành thương lượng với nước ngoài để làm hồ sơ xuất khẩu theo đề nghị của bên uỷ thác và được trả một phần phí như là tiền uỷ thác.
Giao dịch của doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác được ghi rõ tại hợp đồng uỷ thác. Xuất khẩu uỷ thác có đặc điểm là trong hoạt động xuất khẩu này các doanh nghiệp xuất khẩu (nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn nên không phải nộp thuế (nếu có) , không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng của họ mà tự mình sẽ thay mặt cho bên uỷ thác đi giao dịch với đối tác nước ngoài để ký hợp đồng và làm thủ tục xuất khẩu hàng cũng hoặc giúp phía bên uỷ thác khiếu nại yêu cầu thanh toán với nước ngoài khi có thiệt hại. Khi nhận uỷ thác thì những doanh nghiệp xuất khẩu này (nhận uỷ thác) phải ký hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài. Một hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác.
o Đặc 6 điểm: Doanh nghiệp thực hiện công việc xuất khẩu uỷ thác không phải bỏ vốn, không phải cấp giấy phép và không phải tìm thị trường tiêu thụ hàng nhập nên trị giá hàng nhập chỉ được xác định trên kim ngạch XNK không được hạch toán vào doanh thu. Khi nhận uỷ thác phải làm hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài và một hợp đồng uỷ thác xuất khẩu với bên uỷ thác tại trong nước. - Xuất khẩu tái xuất: Tạm nhập tái xuất là hình thức để thương nhân Việt Nam nhập khẩu trực tiếp hàng hoá vào Việt Nam, rồi từ đó phải xuất khẩu ngay hàng hoá đó rời bỏ Việt Nam đến một nước lân cận.