CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái quát chung về giao nhận hàng hóa 1. Giao nhận hàng hóa và dịch vụ giao nhận 1. Khái niệm giao nhận hàng hóa quốc tế và dịch vụ giao nhận Giao nhận hàng hóa quốc tế là thực hiện những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng ở hai quốc gia khác nhau.
Theo “Quy tắc mẫu của Hiệp Hội Giao Nhận Quốc Tế - FIATA về Dịch vụ giao nhận”: dịch vụ giao nhận là bất cứ các loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp đóng gói hay phân phối hàng hóa, cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ kể trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. Theo Luật thương mại năm 1997 của Việt Nam: Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa, nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ, các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người giao nhận khác. Đặc điểm hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu Đặc điểm nổi bật trong hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là người mua và người bán ở các nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng, tức là hàng hóa được vận chuyển từ người bán sang người mua.
Hàng hóa được vận chuyển đến tay người mua cần phải trải qua các công việc khác nhau liên quan đến quá trình chuyên chở, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên phương tiện vận chuyển, chuyển tải, dỡ hàng ra khỏi phương tiện, và giao cho người nhận. 3 Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu thực chất là tổ chức quá trình chuyên chở hàng hóa từ nước này sang nước khác, và giải quyết tất cả các thủ tục liên quan đến quá trình chuyên chở đó. Vai trò, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận 1. Vai trò của người giao nhận - Khi người giao nhận là đại lý: Nhận ủy thác của người chuyên chở hoặc chủ hàng để thực hiện các công việc khác nhau như vận chuyển, giao hàng, nhận hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho, … Dựa theo hợp đồng mua bán, thì người giao nhận là một đại lý của người chuyên chở hoặc người giao hàng.
- Khi người giao nhận là người gom hàng: Tập hợp những lô hàng LCL thành những lô hàng FCL, đặc biệt được thuê trong vận tải đường biển và đường sắt. - Khi người giao nhận là người chuyên chở: Ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Nếu người giao nhận trực tiếp chuyên chở thì là người chuyên chở thực tế, nếu người giao nhận thuê bên khác chuyên chở thì được gọi là người thầu chuyên chở. - Khi người giao nhận là môi giới hải quan: Thay mặt chủ hàng chuẩn bị các chứng từ cần thiết và khai báo hải quan cho lô hàng được ủy thác.
Lúc này người giao nhận thay mặt cho chủ hàng, người xuất khẩu, người nhập khẩu khai báo hải quan, làm thủ tục hải quan. - Khi người giao nhận là người kinh doanh vận tải đa phương thức: Cung cấp dịch vụ vận tải từ cửa tới cửa bằng nhiều phương thức, thì khi đó người giao nhận đã đóng vai trò kinh doanh vận tải đa phương thức MTO. Khi đó, người giao nhận phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa từ điểm đầu tới điểm cuối. Quyền hạn, nghĩa vụ của người giao nhận Theo quy định Điều 167, Luật Thương mại Việt Nam quy định: - Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu hợp lý khác.
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. 4 - Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nên có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng. - Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thực hiện được chỉ dẫn của khách hàng phải thông báo cho khách hàng biết để xin được chỉ dẫn thêm. - Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý nếu trong hợp đồng không thỏa thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ với khách hàng.
Trách nhiệm của người giao nhận * Khi Người giao nhận là đại lý: sẽ phải chịu trách nhiệm về những sơ suất, lỗi lầm và thiếu sót như: - Giao hàng không đúng chỉ dẫn - Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm hàng hóa mặc dù đã có hướng dẫn. - Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan. - Chờ hàng sai sót đến nơi quy định. - Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế.
- Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng. - Chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra cho người thứ ba trong hoạt động của mình. Nhưng không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại do người thứ ba gây ra. * Khi người giao nhận là người chuyên chở: - Chịu trách nhiệm cung cấp những dịch vụ mà khách hàng yêu cầu.
- Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do người thứ ba gây ra – là người thuê để thực hiện hợp đồng với khách hàng. Điều 170, Luật Thương mại Việt Nam giới hạn trách nhiệm của người giao nhận: 5 - Trong mọi trường hợp không vượt quá giá trị hàng hóa, trừ khi các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng. - Không được miễn trách nhiệm nếu không chứng minh được việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng không phải lỗi do mình gây ra. - Tiền bồi thường được tính trên cơ sở giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn và các khoản tiền khác có chứng từ hợp lệ.
- Người làm dịch vụ giao nhận không phải chịu trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: + Không nhận được thông báo khiếu nại trong vòng 14 ngày làm việc, kể từ ngày giao hàng + Không nhận được thông báo bằng văn bản về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc tòa án trong thời gian 9 tháng, kể từ ngày giao hàng Điều 169, Luật Thương mại Việt Nam quy định người giao nhận không chịu trách nhiệm trong những trường hợp sau: - Do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy thác. - Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp. - Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hóa. - Do chiến tranh, đình công.
- Do các trường hợp bất khả kháng. Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển 1. Cơ sở pháp lý, nguyên tắc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển 1. Cơ sở pháp lý Việc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam: - Các công ước về vận đơn, vận tải; Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán,.
6 - Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về giao nhận vận tải, các loại hợp đồng và thư tín dụng mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng xuất nhập khẩu. Ví dụ: + Bộ luật hàng hải 1990; + Luật thương mại 1997; + Nghị định 25CP, 200CP, 330CP; + Quyết định của Bộ trưởng Bộ GTVT: quyết định số 2106 (23/08/1997) liên quan đến việc xếp dỡ, giao nhận và vận chuyển hàng hóa tại cảng biển Việt Nam. Nguyên tắc giao nhận Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại các cảng biển Việt Nam như sau: - Việc giao nhận hàng hóa tại các cảng biển là do cảng tiến hành dựa trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng ủy thác với cảng. - Đối với những hàng hóa không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì có thể do các chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác giao nhận trực tiếp với người vận tải (qui định mới từ 1991).
Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác phải kết toán trực tiếp với người vận tải và chỉ thỏa thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các chi phí liên quan khác. - Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng thực hiện. Trường hợp chủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thỏa thuận với cảng và trả các lệ phí, chi phí liên quan cho cảng. - Khi được ủy thác giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu với taufm cảng nhận hàng bằng phương thức nào thì phải giao bằng phương thức đó.
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa khi hàng đã ra khỏi cảng. - Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được ủy thác phải xuất trình những chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tục trong một thời gian nhất định những hàng hóa ghi trên chứng từ. - Việc giao nhận có thể do cảng làm theo ủy thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm. Nhiệm vụ của các cơ quan tham gia giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển 1.
Nhiệm vụ của cảng - Ký kết hợp đồng xếp dỡ, giao nhận, bảo quản, lưu kho hàng hóa với chủ hàng. Có 2 loại hợp đồng: + Hợp đồng ủy thác giao nhận + Hợp đồng thuê mướn: chủ hàng thuê cảng xếp dỡ vận chuyển, lưu kho, bảo quản hàng hóa - Giao hàng xuất khẩu cho tàu và nhận hàng nhập khẩu từ tàu nếu được ủy thác. - Kết toán với tàu về việc giao nhận hàng hóa và lập các chứng từ cần thiết khác để bảo vệ quyền lợi của chủ hàng. - Giao hàng nhập khẩu cho các chủ hàng trong nước theo sự ủy thác của chủ hàng xuất nhập khẩu.
- Tiến trình việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho trong khu vực cảng. - Chịu trách nhiệm về những tổn thất của hàng hóa do mình gây nên trong quá trình giao nhận vận chuyển xếp dỡ. - Hàng hóa lưu kho, lưu bãi của cảng bị hư hỏng, tổn thất thì càng phải bồi thường nếu có biên bản hợp lệ và nếu cảng không chứng minh được là cảng không có lỗi.