CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp và các quyết định Tài chính doanh nghiệp. Khái niệm Tài chính doanh nghiệp và các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp.
Theo luật doanh nghiệp 2020 : “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng ,có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.’’ Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công… song song với đó là phát sinh ra các hoạt động trao đổi, mua bán, vay mượn, hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa, sản phẩm và tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm đó để thu lợi nhuận. Mặt khác, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong quá trình đó đã làm phát sinh, tạo ra sự vận động của các dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp. Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ ấy là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu sau: -Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách. -Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác. Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh thể kinh tế khác rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau (bao hàm cả các dịch vụ tài chính). 3 Sinh viên: Lê Khương Duy Lớp: CQ55/11.08 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính Ngoài quan hệ tài chính với các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp có thể có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác, như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội.
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp. Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán trả tiền công, thực hiện thưởng, phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. -Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp. Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện việc đầu tư, góp vốn vào hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
-Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội bộ doanh nghiệp. Từ những vấn đề nêu trên, có thể rút ra một số kết luận sau: -Xét về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. -Xét về mặt hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.
Các quyết định Tài chính doanh nghiệp. Quản trị tài chính có quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp, có sức ảnh hưởng, chi phối các quyết định quản trị khác trong toàn doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh, các vấn đề tài chính luôn vận động liên tục, đòi hỏi các nhà quản trị tài chính phải có năng lực quản lý nhạy bén, vững về chuyên môn để có thể đưa ra các quyết định và tổ chức thực hiện một cách khoa học, kịp thời và phù hợp. Như vậy, để thực hiện tốt việc quản trị tài chính của doanh nghiệp thì cần phải xây dựng 4 Sinh viên: Lê Khương Duy Lớp: CQ55/11.08 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính chiến lược phù hợp, xác định rõ rang mục tiêu, lộ trình thực hiện cụ thể và vạch ra chính sách tài chính doanh nghiệp.
a, Quyết định tài chính dài hạn: *Quyết định đầu tư: Quyết định đầu tư là các quyết định liên quan đến tổng giá trị các tài sản và giá trị bộ phận từng loại tài sản (Cơ cấu tài sản ngắn hạn và dài hạn). Quyết định đầu tư ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán. Các quyết định đầu tư chủ yếu là: -Quyết định đầu tư cho Tài sản lưu động: Quyết định tồn quỹ, tồn kho, quyết định chính sách bán hàng, quyết định chính sách đầu tư ngắn hạn,. -Quyết định đầu tư Tài sản cố định: Quyết định mua sắm tài sản cố định, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn,.
-Quyết định quan hệ cơ cấu giữa Tài sản lưu động và Tài sản cố định: quyết định sử dụng đòn bẩy kinh doanh, quyết định điểm hòa vốn. Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết định Tài chính Doanh nghiệp bởi nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Một quyết định đầu tư đúng đắn sẽ góp phần làm tăng giá trị cho doanh nghiệp, qua đó làm tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu. Ngược lại, một quyết định đầu tư sai lầm sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp, làm thiệt hại tài sản cho chủ sở hữu.
Do vậy, các nhà quản trị cân nhắc kỹ lưỡng, so sánh giữa tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức độ rủi ro của các dự án đầu tư để đưa ra quyết định đúng đắn hiệu quả nhất. * Quyết định huy động vốn. Quyết định huy động vốn trả lời câu hỏi “Nên huy động vốn từ những nguồn nào? Với quy mô bao nhiêu? Khi nào?” Để có thể tối đa hóa giá trị hay lợi ích cho chủ sở hữu? Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có thể huy động vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau. Trên cơ sở xem xét cụ thể tình hình thị trường tài chính, nhu cầu vốn và điều kiện của doanh nghiệp, các nhà quản trị sẽ đưa ra quyết định tối ưu nhất trong việc tổ chức huy động vốn (Cả bên trong và bên 5 Sinh viên: Lê Khương Duy Lớp: CQ55/11.08 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính ngoài) để đáp ứng nhu cầu cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Lựa chọn chính sách tài trợ đúng đắn, doanh nghiệp có thể giảm thiểu được rủi ro tài chính và thực hiện tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Quyết định huy động vốn dài hạn: Là quyết định sử dụng nợ dài hạn thông qua vay ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty, quyết định phát hành vốn cổ phần (Cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi), quyết định vay để mua, hay thuê tài sản. Việc lựa chọn phương thức huy động vốn là vấn đề không hề đơn giản. Các nhà quản trị cần phải dựa trên cơ sở cân nhắc, so sánh giữa tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức độ rủi ro của đồng vốn huy động, đánh giá chính xác tình hình hiện tại và dự báo đúng đắn diễn biến thị trường – giá cả trong tương lai trước khi đưa ra quyết định huy động vốn để đảm bảo tính hiệu quả.
* Quyết định phân phối lợi nhuận. Quyết định phân phối lợi nhuận gắn liền với quyết định phân chia lợi nhuận hay chính sách phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nhà quản trị cần phải cân nhắc các vấn đề sau: -Lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư hay để phân chia cho chủ sở hữu. -Tỷ lệ chia là bao nhiêu để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Những quyết định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theo đuổi một chính sách phân chia lợi nhuận như thế nào và liệu chính sách này có tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp trên thị trường. Ngoài ba quyết định chủ yếu trên, các nhà quản trị còn phải đưa ra rất nhiều quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh như quyết định mua bán, sát nhập doanh nghiệp, quyết định phòng ngừa rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp. *Quyết định tài chính ngắn hạn. Đây là những quyết định có tính chất tác nghiệp, ảnh hưởng không lớn tới sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp; vì vậy người ta còn gọi các quyết định tài chính chiến thuật.
Quyết định tài chính ngắn hạn bao gồm: Quyết định dự trữ vốn bằng tiền, quyết định về nợ phải thu, quyết định về việc thực hiện chiết khấu thanh toán, 6 Sinh viên: Lê Khương Duy Lớp: CQ55/11.08 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính quyết định về nợ phải thu, quyết định về việc khấu hao TSCĐ,… Tính hợp lý và đúng đắn của các quyết định này có ảnh hưởng nhất định đến rủi ro và lợi ích doanh nghiệp, cũng như cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Điều này được thể hiện như sau: - Quyết định dự trữ vốn bằng tiền: Khi doanh nghiệp dự trữ vốn bằng tiền sẽ đảm bảo cho hoạt động thanh toán, chi trả nhằm thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp với các chủ thể khác được thuận lợi, hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động, đảm bảo tính thanh khoản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc dự trữ vốn bằng tiền sẽ làm tăng chi phí cơ hội của vốn và tăng nguy cơ rủi ro do tiền có thể bị mất giá do lạm phát, hay thay đổi tỷ giá… gây ra. - Quyết định về nợ phải thu: Khi doanh nghiệp bán chịu sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh dẫn đến làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bán chịu sẽ gia tăng nợ phải thu, dẫn đến ứ đọng vốn và doanh nghiệp có thể gặp rủi ro không thu hồi được công nợ. - Quyết định về chiết khấu thanh toán: Việc áp dụng chiết khấu thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi nhanh tiền bán hàng, giảm nhu cầu vốn dẫn đến giảm bớt chi phí sử dụng vốn. Tuy vậy, do thực hiện chiết khấu cho khách hàng nên lợi nhuận bán hàng của doanh nghiệp có thể bị sụt giảm.