Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong bối cảnh bước sang thế kỷ 21, khi toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghệ thông tin tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội. Sau hơn 20 năm đổi mới và chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển, là động lực lớn nhất để đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong những vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có vị trí địa - kinh tế quan trọng, dân cư đông đúc và mặt bằng dân trí thuộc nhóm cao nhất cả nước. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của vùng bộc lộ nhiều điểm nghẽn:
- Thể lực người lao động còn hạn chế về chiều cao, cân nặng, sức bền và độ dẻo dai, chưa đáp ứng được cường độ lao động công nghiệp.
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa tương xứng với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế; cơ cấu đào tạo bất hợp lý dẫn đến tình trạng "thừa thầy thiếu thợ".
- Người lao động mang nặng thói quen canh tác tiểu nông, thiếu tác phong công nghiệp, kỹ năng làm việc nhóm và ý thức tuân thủ kỷ luật lao động còn yếu.
Từ thực tiễn trên, đề tài tập trung giải quyết câu hỏi nghiên cứu cốt lõi: Tại sao chất lượng nguồn nhân lực ở vùng Đồng bằng sông Hồng chưa tương xứng với tiềm năng và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội?
- Mục tiêu nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực vùng ĐBSH giai đoạn 2000–2008, xác định các nhân tố tác động và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của vùng đến năm 2020.
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực vùng ĐBSH (xem xét trên các khía cạnh thể lực, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực phẩm chất và tác phong kỷ luật).
- Phạm vi không gian: 10–11 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng (gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng tập trung trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008; các định hướng và giải pháp được xây dựng với tầm nhìn đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Tác giả tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực theo nhiều cấp độ:
- Theo nghĩa rộng: Là toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, không bị dị tật bẩm sinh, đóng vai trò cung cấp sức lao động cho xã hội.
- Theo nghĩa hẹp (nguồn lực phát triển): Là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
- Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc về dân số hoạt động (Population active): Toàn bộ những người có khả năng làm việc trong dân cư tính theo độ tuổi lao động quy định (tại Việt Nam quy định nam từ 15–60 tuổi, nữ từ 15–55 tuổi).
- Chất lượng nguồn nhân lực: Là trạng thái thể hiện năng lực, trình độ về thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, tác phong và đạo đức của người lao động.
Đề tài vận dụng 3 mô hình lý thuyết kinh tế tăng trưởng:
- Thuyết vốn nhân lực hiện đại: Khẳng định việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo giúp tích lũy kỹ năng, kiến thức, tạo ra thu nhập cao hơn cho cá nhân (dẫn chứng nghiên cứu của OECD năm 2001 và 2007 cho thấy thu nhập của lao động có học vấn cao tăng 5–15%/năm) và thúc đẩy năng suất của nền kinh tế.
- Mô hình tăng trưởng nội sinh: Giải thích tăng trưởng dài hạn dựa trên tích lũy vốn con người và đổi mới sáng tạo; đối chiếu công trình của Alwyn Young (1995) về các nền kinh tế Đông Á để chỉ ra vai trò của tăng năng suất lao động thay vì chỉ dựa vào tích lũy vốn vật chất thuần túy.
- Mô hình tăng trưởng bền vững (Paul Romer): Nhấn mạnh tri thức là nguồn lực vô hạn, việc tích lũy tri thức và vốn nhân lực là biến số kinh tế đảm bảo tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian (2000–2008), so sánh liên vùng (giữa ĐBSH với Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và bình quân cả nước) và so sánh với các chuẩn mực quốc tế; phương pháp nghiên cứu trường hợp (điển hình tại địa bàn Hà Nội).
- Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê (Niên giám thống kê 2005, 2006, 2007, 2008); Báo cáo thực trạng lao động việc làm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (giai đoạn 1996–2005, 2006); dữ liệu từ Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế; số liệu điều tra thể chất của Nhà xuất bản Thể thao; tài liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và OECD.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Nguồn nhân lực và vai trò của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến phát triển kinh tế
Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về nguồn nhân lực, phân loại nguồn nhân lực (nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư, nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế và nguồn nhân lực dự trữ). Tác giả phân tích hai vai trò cơ bản của con người trong phát triển: vừa là động lực sáng tạo ra của cải, vừa là mục tiêu tối hậu của mọi sự phát triển kinh tế - xã hội.
Chương 1 cũng xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực:
- Chỉ tiêu thể lực: Chiều cao, cân nặng, sức bền, tình trạng dinh dưỡng, tỷ lệ sinh/chết thô, tuổi thọ bình quân.
- Chỉ tiêu trình độ văn hóa: Tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ dân số theo các bậc học (tiểu học, THCS, THPT, đại học).
- Chỉ tiêu trình độ chuyên môn kỹ thuật: Tỷ lệ lao động qua đào tạo, cơ cấu bậc đào tạo (công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng - đại học, sau đại học).
- Chỉ tiêu phẩm chất, đạo đức, tác phong: Tính kỷ luật, tác phong công nghiệp, khả năng thích ứng và tinh thần hợp tác.
Đồng thời, chương 1 tổng kết kinh nghiệm phát triển nhân lực của các nước Đông Á, Nhật Bản (đào tạo tại doanh nghiệp, chuẩn hóa pháp lý) và Hoa Kỳ (gắn đào tạo với chuyển dịch cơ cấu việc làm, đào tạo lại lao động), từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở vùng ĐBSH giai đoạn 2000 đến nay
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về quy mô, cơ cấu và chất lượng lao động của vùng ĐBSH thông qua các chuỗi số liệu thống kê chi tiết:
1. Quy mô và phân bố lực lượng lao động
Năm 2008, dân số ĐBSH đạt 19.654,8 nghìn người (chiếm 22,8% dân số cả nước), mật độ dân số 933 người/km², cao gấp 3,6 lần bình quân cả nước. Lực lượng lao động (LLLĐ) của vùng tăng từ 9.360,7 nghìn người (năm 2000) lên 11.304,5 nghìn người (năm 2008), đạt tốc độ tăng bình quân 2,6%/năm.
| Chỉ tiêu |
Năm 2000 |
Năm 2004 |
Năm 2005 |
Năm 2006 |
Năm 2007 |
Năm 2008 |
Tăng bình quân (%/năm) |
| Dân số (nghìn người) |
18.055,2 |
18.903,8 |
19.107,5 |
19.318,9 |
19.488,3 |
19.654,8 |
1,1 |
| Lực lượng lao động (nghìn người) |
9.360,7 |
10.313,2 |
10.563,0 |
10.805,1 |
11.052,0 |
11.304,5 |
2,6 |
| Tỷ lệ LLLĐ so với tổng dân số (%) |
51,8 |
54,6 |
55,3 |
56,0 |
56,1 |
57,5 |
- |
Phân bố lao động không đồng đều giữa các tỉnh: Hà Nội tập trung cao nhất với 3.238,6 nghìn lao động (chiếm 28,6% toàn vùng), trong khi Hà Nam chỉ có 510,6 nghìn lao động.
2. Cơ cấu lao động theo khu vực và ngành kinh tế
- Thành thị - Nông thôn: Năm 2008, lao động nông thôn vẫn chiếm 72,7% (giảm từ 79,9% năm 2004), lao động thành thị chiếm 27,3% (riêng Hà Nội đạt 59,7%).
- Theo ngành kinh tế: Có sự chuyển dịch tích cực nhưng tỷ trọng nông nghiệp vẫn còn lớn:
| Khu vực ngành kinh tế |
Tỷ trọng năm 2000 (%) |
Tỷ trọng năm 2004 (%) |
Tỷ trọng năm 2006 (%) |
Tỷ trọng năm 2008 (%) |
Tăng trưởng bình quân LĐ/năm (%) |
| Nông, lâm, ngư nghiệp |
73,04 |
58,00 |
52,40 |
51,10 |
0,04 |
| Công nghiệp, xây dựng |
9,90 |
18,70 |
23,00 |
24,10 |
14,00 |
| Dịch vụ |
17,04 |
23,30 |
24,60 |
24,80 |
4,70 |
3. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực
- Thể lực: Đánh giá chung của WB cho thấy chất lượng nhân lực Việt Nam đạt 3,79/10 điểm (xếp thứ 11/12 nước châu Á); năng suất lao động xếp thứ 77/125. Chiều cao trung bình nam thanh niên Việt Nam là 163,3 cm (thế giới là 176 cm), nữ thanh niên là 153 cm (thế giới là 163,7 cm); tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 60,2 tuổi (xếp thứ 116/174). Khảo sát tại 4 quận nội thành Hà Nội (599 đối tượng) cho thấy 41,6% có BMI ≥ 23; 59,8% bị rối loạn lipid máu. Khẩu phần ăn của vùng mất cân đối nghiêm trọng: Glucid chiếm 79,6% (vượt chuẩn 70%), Lipid chiếm 8,7% (thiếu hụt 9,3% so với chuẩn 18%), Protit chiếm 11,7% (thiếu 0,3% so với chuẩn 12%).
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật và cơ cấu đào tạo: Năm 2008, tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng đạt 22,6%, trong đó trình độ đại học trở lên chiếm 6,5%. Tuy nhiên, năm 2006, có tới 63,74% LLLĐ chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Cơ cấu trình độ đào tạo Đại học - Cao đẳng / Trung cấp chuyên nghiệp / Công nhân kỹ thuật (CĐ-ĐH / THCN / CNKT) của vùng năm 2000 là 1 / 1,12 / 2,8 và năm 2006 là 1 / 0,75 / 2,66. Cơ cấu này lệch chuẩn nghiêm trọng so với tỷ lệ chung của Việt Nam (1 / 0,98 / 3,6) và chuẩn thế giới (1 / 4 / 20), tạo nên sự mất cân đối "thừa thầy thiếu thợ".
- Tác phong, kỷ luật và an toàn lao động: Ý thức kỷ luật lao động công nghiệp kém, còn mang nặng thói quen sản xuất tự do tiểu nông. Số vụ tai nạn lao động tại ĐBSH tăng từ 519 vụ (56 người chết) năm 2006 lên 649 vụ (106 người chết) năm 2007. Tác giả phân tích bất cập của Bộ luật Lao động khi quy định xử lý kỷ luật thuần túy bằng các biện pháp hành chính (khiển trách, cảnh cáo, sa thải), thiếu vắng chế tài kinh tế (phạt tiền, bồi thường trực tiếp) dẫn đến giảm tính răn đe.
4. Các nhân tố tác động đến chất lượng nhân lực
- Giáo dục - Đào tạo: Năm 2008 toàn vùng có 104 trường ĐH-CĐ (61 đại học, 43 cao đẳng), tỷ lệ sinh viên/giảng viên là 27,4 (cao hơn nhiều so với mức chuẩn quốc tế 10–12 sinh viên/giảng viên). Mạng lưới dạy nghề có 603 cơ sở (2007) nhưng khoảng 50% trang thiết bị thực hành đã lạc hậu từ 10–20 năm, chương trình đào tạo nặng về lý thuyết hàn lâm.
- Dịch vụ y tế: Vùng tập trung 2.763 cơ sở y tế (191 bệnh viện, 2.450 trạm y tế), chiếm 23,4% số bác sĩ cả nước nhưng phân bố không đều giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận.
- Thị trường lao động: Tỷ lệ thất nghiệp của vùng năm 2008 là 2,29% (thất nghiệp thành thị đạt 5,35% - cao nhất cả nước); tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn lên tới 8,23% (đứng đầu cả nước). Các kênh giao dịch chính quy qua trung tâm giới thiệu việc làm và hội chợ việc làm đã bước đầu phát huy tác dụng nhưng quy mô giao dịch thành công còn thấp so với nhu cầu thực tế.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng ĐBSH đến 2020
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp:
- Đổi mới căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo nghề: Chuyển đổi phương pháp giảng dạy từ truyền thụ thụ động sang thực hành; hiện đại hóa trang thiết bị xưởng thực hành tại các trường dạy nghề; điều chỉnh quy mô tuyển sinh để tái cân cấu tỷ lệ đào tạo giữa kỹ sư/cử nhân, kỹ thuật viên trung cấp và công nhân lành nghề; xây dựng mối liên kết bắt buộc giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.
- Nâng cao thể lực và chăm sóc sức khỏe người lao động: Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về dinh dưỡng học đường và dinh dưỡng cho người lao động; điều chỉnh cơ cấu khẩu phần ăn (tăng tỷ lệ đạm, béo hợp lý, giảm tiêu thụ tinh bột đơn thuần); đầu tư đồng bộ mạng lưới y tế cơ sở và y tế dự phòng.
- Hoàn thiện thể chế chính sách và phát triển thị trường lao động: Đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động theo hướng cho phép áp dụng chế tài kinh tế (phạt tiền, bồi thường thiệt hại) đối với hành vi vi phạm kỷ luật lao động nhằm tạo lập tác phong công nghiệp; cải cách hệ thống tiền lương tối thiểu gắn với cơ chế thị trường; mở rộng hệ thống thông tin dữ liệu thị trường lao động và nâng cao năng lực các trung tâm giới thiệu việc làm, sàn giao dịch việc làm định kỳ.
Kết quả và đóng góp
- Tổng hợp và phân tích định lượng chi tiết hệ thống dữ liệu nhân lực: Chuyên đề đã xây dựng hệ thống 23 bảng số liệu và nhiều biểu đồ phản ánh sự biến động của nguồn nhân lực vùng ĐBSH giai đoạn 2000–2008 trên các khía cạnh dân số, tỷ lệ tham gia lao động, cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và phân loại chuyên môn kỹ thuật.
- Làm rõ sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo: Luận văn chỉ ra hệ số chênh lệch cụ thể giữa cơ cấu đào tạo thực tế tại ĐBSH (1 / 0,75 / 2,66 vào năm 2006) so với chuẩn quốc tế (1 / 4 / 20), định vị chính xác nguyên nhân gốc rễ của tình trạng thiếu hụt kỹ thuật viên và thợ lành nghề trong các khu công nghiệp.
- Đưa ra quan điểm lập pháp về chế tài kỷ luật lao động: Tác giả lập luận việc sử dụng chế tài kinh tế (thay vì thuần túy hành chính) trong quan hệ lao động là phù hợp với bản chất quan hệ kinh tế thị trường, góp phần trực tiếp nâng cao tính chuyên nghiệp và ý thức kỷ luật của người lao động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Tác giả tự nhận định nghiên cứu còn hạn chế do trình độ và nguồn số liệu chưa thu thập được đầy đủ ở tất cả các địa phương trong vùng; nguồn thông tin dự báo cầu lao động vĩ mô và số liệu giao dịch tuyển dụng thực tế của khối doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn thiếu đồng bộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu điều tra định lượng vi mô về nhu cầu kỹ năng cụ thể của các doanh nghiệp trong từng ngành kinh tế mũi nhọn; khảo sát chuyên sâu về hiệu quả đào tạo lại lao động nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại các địa phương có tốc độ đô thị hóa cao trong vùng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý nguồn nhân lực, Kinh tế lao động; cán bộ nghiên cứu tại các viện chiến lược, cơ quan quản lý lao động và hoạch định chính sách kinh tế - xã hội cấp tỉnh/thành phố.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Khung hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích chất lượng nguồn nhân lực theo 3 khía cạnh (thể lực, trí lực, tác phong).
- Dữ liệu lịch sử về cơ cấu lao động theo ngành và theo trình độ đào tạo của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2000–2008.
- Phân tích mối quan hệ giữa chế độ dinh dưỡng, thể trạng nhân trắc học với năng suất lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu trình độ đào tạo CĐ-ĐH / THCN / CNKT của vùng ĐBSH năm 2006 biến động như thế nào so với chuẩn quốc tế?
Năm 2006, tỷ lệ đào tạo CĐ-ĐH / THCN / CNKT của vùng ĐBSH là 1 / 0,75 / 2,66 (năm 2000 là 1 / 1,12 / 2,8). Trong khi đó, tỷ lệ đào tạo chuẩn của thế giới là 1 / 4 / 20. Điều này phản ánh thực trạng vùng ĐBSH bị dư thừa tỷ lệ lao động trình độ cao đẳng, đại học nhưng lại thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ trung cấp chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật lành nghề.
2. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn vùng ĐBSH năm 2008 được ghi nhận ở mức nào?
Theo số liệu thống kê năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp chung của ĐBSH là 2,29%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị lên tới 5,35% (mức cao nhất cả nước). Đồng thời, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn của vùng là 8,23%, cũng đứng đầu trong tất cả các vùng kinh tế của cả nước.
3. Nghiên cứu chỉ ra những vấn đề gì về khẩu phần dinh dưỡng của người lao động ĐBSH?
Khẩu phần ăn của người lao động trong vùng mất cân đối nghiêm trọng: nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu dựa vào Glucid (gạo chiếm gần 70% năng lượng khẩu phần), đưa tỷ lệ Glucid lên 79,6% (thừa 9,6% so với chuẩn hợp lý 70%). Ngược lại, Lipid chỉ đạt 8,7% (thiếu hụt 9,3% so với chuẩn 18%) và Protit đạt 11,7% (thiếu 0,3% so với chuẩn 12%).
4. Vì sao tác giả đề xuất cần cho phép áp dụng chế tài phạt tiền trong xử lý kỷ luật lao động?
Tác giả lập luận rằng quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động về bản chất là quan hệ kinh tế (mua bán sức lao động). Việc Bộ luật Lao động thời điểm đó chỉ cho phép áp dụng các biện pháp hành chính (khiển trách, cảnh cáo, chuyển việc, cách chức, sa thải) mà cấm chế tài kinh tế đã làm giảm tính răn đe. Việc cho phép phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại trực tiếp khi vi phạm hợp đồng (như đi muộn, bỏ việc) sẽ đánh trực tiếp vào lợi ích kinh tế, buộc người lao động phải tuân thủ kỷ luật nghiêm ngặt và hình thành tác phong công nghiệp.
5. Thực trạng cơ sở vật chất của mạng lưới đào tạo nghề vùng ĐBSH thời điểm 2006–2007 ra sao?
Năm 2007, vùng có 603 cơ sở dạy nghề (chiếm 29,2% cả nước), gồm 389 trường công lập và 214 trường ngoài công lập. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập khi có tới khoảng 50% số trang thiết bị thực hành đã bị lạc hậu từ 10 đến 20 năm, chủ yếu phục vụ cho các khóa đào tạo ngắn hạn hoặc các ngành nghề kỹ thuật giản đơn.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Vịnh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn nhân lực và phân tích thực trạng chất lượng nguồn lao động vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2000–2008. Công trình đã làm rõ các điểm nghẽn về thể lực, cơ cấu đào tạo "thừa thầy thiếu thợ", kỷ luật lao động tiểu nông và những hạn chế của hệ thống chính sách, thị trường việc làm. Các giải pháp đề xuất về đổi mới đào tạo nghề, cải thiện dinh dưỡng, hoàn thiện Bộ luật Lao động và phát triển sàn giao dịch việc làm là những đóng góp có ý nghĩa thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu CNH – HĐH của toàn vùng đến năm 2020.