Tổng quan nghiên cứu
Khu Dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà có tổng diện tích 28.500 ha với vùng lõi là Vườn Quốc gia Cát Bà rộng 15.800 ha, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học trọng điểm của vùng biển Đông Bắc Việt Nam với hơn 2.380 loài động thực vật. Vùng đệm của Vườn Quốc gia bao gồm 06 xã và 01 thị trấn với quy mô dân số 16.340 người. Trong khi khu vực thị trấn tập trung 66% dân số với thế mạnh thương mại - du lịch, thì tại 06 xã nông thôn, tỷ lệ lao động phụ thuộc trực tiếp vào nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 52,8%. Trong bối cảnh Việt Nam ghi nhận mức tăng nhiệt độ trung bình 0,5°C trong 50 năm qua và mực nước biển dâng trung bình 2,9 mm/năm giai đoạn 1993-2010, các vùng ven biển đang phải đối mặt với áp lực môi trường ngày càng khốc liệt. Tại thành phố Hải Phòng, hiện tượng xói lở bờ biển đã gây ảnh hưởng trên chiều dài 16,1 km trong tổng số 125 km bờ biển, đe dọa nghiêm trọng hệ thống đê kè và tư liệu sản xuất của cộng đồng.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên thiên nhiên và nhu cầu phát triển sinh kế bền vững của người dân địa phương dưới tác động gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm: nhận diện và dự báo các tác động khí hậu đối với hệ sinh thái đảo; đánh giá mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của từng nhóm sinh kế chủ lực; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp giảm thiểu tính dễ bị tổn thương cho 06 xã vùng đệm (Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám, Gia Luận, Trân Châu, Việt Hải). Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu giảm thiểu ít nhất 30% rủi ro sinh kế do biến đổi khí hậu cho người dân ven biển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khung lý thuyết học thuật nền tảng:
Thứ nhất là Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu do Allison và cộng sự phát triển năm 2009. Theo mô hình này, tính dễ bị tổn thương (V) là một hàm phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: Mức độ phơi nhiễm (Exposure - E), Tính nhạy cảm (Sensitivity - S) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity - AC). Mối quan hệ giữa mức độ phơi nhiễm với tai biến tự nhiên và tính nhạy cảm của hệ thống sẽ hình thành Tác động tiềm năng (Potential Impacts - PI = E + S), trong khi năng lực thích ứng đóng vai trò là nhân tố giảm trừ tác động tiêu cực để xác định chỉ số tổn thương tổng hợp (V = PI - AC).
Thứ hai là Khung sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001) được tinh chỉnh bởi IMM (2004) và UNDP (2010) để thích ứng với điều kiện cộng đồng ven biển. Khung lý thuyết này phân tích năng lực thích ứng thông qua 05 nguồn vốn sinh kế: Vốn tự nhiên (diện tích đất đai, 775,98 ha rừng ngập mặn, bãi triều, tài nguyên nước), Vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe lao động), Vốn tài chính (thu nhập định kỳ, tích lũy tiền mặt, khả năng tiếp cận tín dụng), Vốn vật chất (nhà ở kiên cố, tàu thuyền đánh bắt, đầm nuôi trồng, đường giao thông 27 km xuyên đảo), và Vốn xã hội (mạng lưới họ hàng, hội nghề nghiệp, mức độ tương trợ cộng đồng). Tính bền vững sinh kế được xem xét toàn diện trên 04 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng, bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các Kịch bản Biến đổi khí hậu và Nước biển dâng của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2009 và 2011), chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn trạm Phù Liễn và trạm hải văn Hòn Dáu trong giai đoạn 1955-2007, kết hợp cùng niên giám thống kê huyện Cát Hải năm 2010.
Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả triển khai phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 120 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 06 xã vùng đệm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tầng là nhằm đảm bảo tính đại diện tối ưu cho 04 nhóm sinh kế đặc thù: nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản, trồng trọt chăn nuôi và kinh doanh du lịch dịch vụ.
Quy trình thu thập và xử lý thông tin được hỗ trợ bởi phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (Participatory Rural Appraisal - PRA) thông qua các công cụ: lập hồ sơ hiểm họa lịch sử, bảng phân tích tai biến tự nhiên và biểu đồ lịch mùa vụ sinh kế. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành 08 cuộc phỏng vấn nhóm tập trung (mỗi nhóm quy tụ 10-15 đại diện cộng đồng) cùng 15 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân đối với các chuyên gia, cán bộ quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà và lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải. Tiến trình khảo sát thực địa được thực hiện nghiêm túc qua 03 đợt trong năm 2012: đợt 1 từ ngày 20 đến 24 tháng 4 năm 2012 tại xã Xuân Đám và Gia Luận; đợt 2 từ ngày 23 đến 27 tháng 8 năm 2012 tại xã Trân Châu và Việt Hải; đợt 3 từ ngày 01 đến 05 tháng 11 năm 2012 tại xã Phù Long và Hiền Hào.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã chỉ ra sự phân hóa sâu sắc về mức độ tổn thương sinh kế giữa các nhóm ngành nghề và khu vực địa lý tại đảo Cát Bà:
Thứ nhất, nhóm sinh kế khai thác và nuôi trồng thủy sản có mức độ phơi nhiễm và tính nhạy cảm cao nhất trước thiên tai. Tại xã Phù Long, cơ cấu nghề khai thác hải sản cho thấy nghề xăm đáy cố định chiếm 33,3% và lưới rê ghẹ chiếm 37,2% tổng số ngư cụ sử dụng. Các hình thức này tập trung tại khu vực ven rừng ngập mặn và lạch sông Lạch Huyện, nơi chịu tác động trực tiếp của biên độ thủy triều lớn lên tới 2,6-3,6 m trong các kỳ nước cường và rất dễ bị phá hủy hoàn toàn khi có bão đổ bộ. Hoạt động nuôi cá lồng bè tại vịnh Lan Hạ và xã Việt Hải cũng đối mặt với nguy cơ thiệt hại kinh tế nặng nề do sóng lớn cực đại đạt 2,8 m và hiện tượng bồi lắng đáy vịnh.
Thứ hai, vốn tự nhiên và vốn vật chất phục vụ sinh kế nông nghiệp bị suy thoái và thiếu hụt nghiêm trọng. Đặc trưng địa hình karst đá vôi chiếm phần lớn diện tích khiến quỹ đất sản xuất nông nghiệp rất hạn chế. Lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.700-1.800 mm nhưng phân bố lệch pha nghiêm trọng, với 80-90% tổng lượng mưa tập trung vào các tháng 5 đến tháng 10. Do thiếu hệ thống hồ chứa và công trình thủy lợi kiên cố, ngoại trừ xã Việt Hải canh tác được 2 vụ lúa nước, các xã còn lại như Xuân Đám, Hiền Hào, Trân Châu chỉ gieo cấy được 1 vụ lúa mùa bấp bênh phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời.
Thứ ba, sự suy giảm của các hệ sinh thái rào cản tự nhiên làm gia tăng nguy cơ phơi nhiễm. Các rạn san hô viền bờ khu vực Đông Nam đảo Cát Bà từng đạt độ phủ san hô sống 50-70% vào năm 1999, nhưng các khảo sát gần đây cho thấy độ phủ đã sụt giảm xuống dưới 40%. Diện tích 775,98 ha rừng ngập mặn (trong đó có 551,24 ha nằm xen kẽ trong các đầm nuôi thủy sản) đang chịu áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng và ô nhiễm nguồn nước, làm suy giảm khả năng phòng hộ chắn sóng và bảo vệ nguồn lợi 196 loài cá biển, 154 loài san hô và 538 loài động vật đáy.
Thứ tư, năng lực thích ứng về tài chính của người dân còn nhiều hạn chế. Thu nhập bình quân của các hộ làm nông - ngư nghiệp chỉ đạt mức trung bình, với hơn 70% hộ dân thiếu vốn dự trữ và gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức để tái thiết sản xuất sau bão lụt. Hoạt động du lịch phát triển với tốc độ tăng trưởng khách bình quân 37%/năm nhưng mang tính mùa vụ sâu sắc, tập trung cao điểm từ tháng 5 đến tháng 8, khiến thu nhập trong mùa đông của người dân sụt giảm từ 50-60%.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng dễ bị tổn thương của người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà bắt nguồn từ sự tương tác phức tạp giữa vị trí địa lý hải đảo cô lập và sự phụ thuộc quá mức vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm. Khi so sánh với các nghiên cứu sinh kế ven biển miền Trung của UNDP (2010) tại Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế, mức độ tổn thương tại Cát Bà có tính đặc thù cao hơn do cấu trúc địa hình karst giữ nước kém và quy mô đất canh tác nhỏ hẹp.
Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét cấu trúc tổn thương thông qua các ma trận đánh giá tác động tiềm năng sinh thái và các biểu đồ phân tích cơ cấu thu nhập hộ gia đình. Các biểu đồ phân bố lao động theo giới và biểu đồ nhận thức cộng đồng chỉ ra rằng phụ nữ và người già là nhóm chịu tác động nặng nề nhất khi nguồn nước sinh hoạt bị nhiễm mặn hoặc thiếu hụt. Việc trực quan hóa các tầng dữ liệu trên bản đồ phân vùng tổn thương do nước biển dâng cho thấy khu vực bờ biển xã Hiền Hào và đầm bãi xã Phù Long là hai điểm nóng cần ưu tiên can thiệp khẩn cấp. Mặc dù người dân đã phát triển một số biện pháp tự thích ứng như nuôi ong lấy mật, chuyển đổi sang trồng cây dược liệu hồng hoa hay kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn với nuôi thủy sản quảng canh, các phản ứng này vẫn mang tính tự phát, thiếu trợ lực từ các chính sách quy hoạch tổng thể và các gói hỗ trợ công nghệ đồng bộ.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao năng lực thích ứng và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương sinh kế cho cộng đồng 06 xã vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà, luận văn đề xuất 04 nhóm giải pháp chiến lược:
Thứ nhất, tái cơ cấu và đa dạng hóa các mô hình sinh kế nông - lâm - thủy sản bền vững. Cần mở rộng diện tích trồng các giống cây dược liệu chịu hạn và có giá trị kinh tế cao như cây hồng hoa (Hibiscus sabdariffa) và cây ba kích tím từ quy mô thử nghiệm lên 50-100 ha tại các xã Xuân Đám, Hiền Hào và Việt Hải trong giai đoạn 2013-2015. Đồng thời, chuyển đổi dần mô hình nuôi tôm thâm canh tự phát sang mô hình nuôi thủy sản sinh thái kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn. Chủ thể thực hiện là Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Cát Hải phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã vùng đệm.
Thứ hai, bảo tồn và phục hồi các rào cản sinh thái tự nhiên. Tăng cường thực hiện cơ chế đồng quản lý và giao khoán bảo vệ 775,98 ha rừng ngập mặn tại xã Phù Long, kết hợp khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các bãi rạn san hô vịnh Lan Hạ. Đặt mục tiêu nâng độ che phủ rừng phòng hộ ven biển lên trên 70% và duy trì độ phủ san hô sống trên 45% vào năm 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm chính là Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà, Hạt Kiểm lâm và các Tổ cộng đồng bảo vệ rừng địa phương.
Thứ ba, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu và hệ thống cảnh báo sớm thiên tai. Thực hiện kiên cố hóa 16,1 km đoạn bờ kè và tuyến đường ven biển xung yếu có nguy cơ sạt lở tại xã Hiền Hào và Phù Long; xây dựng 03 hồ chứa nước ngọt nhân tạo và hệ thống bể lọc nước mưa tập trung tại các xã Trân Châu, Gia Luận, đảm bảo cung cấp 100% nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho người dân trong mùa khô hạn vào năm 2018. Chủ thể thực hiện là Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn thành phố Hải Phòng và Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế tài chính vi mô và tăng cường tập huấn kỹ năng kỹ thuật. Thành lập quỹ hỗ trợ rủi ro thiên tai cộng đồng và cung cấp các gói tín dụng ưu đãi với định mức vay từ 30 đến 50 triệu đồng/hộ qua Ngân hàng Chính sách Xã hội; định kỳ tổ chức tối thiểu 12 khóa tập huấn kỹ thuật hàng năm về phòng trừ dịch bệnh thủy sản, kỹ thuật nuôi ong an toàn phòng chống cháy rừng cho trên 500 lượt nông dân. Chủ thể triển khai là Hội Nông dân, Trạm Khuyến nông - Khuyến ngư huyện Cát Hải và các tổ chức phát triển phi chính phủ.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu cung cấp khối lượng dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học giá trị cho 04 nhóm đối tượng chính:
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng. Luận văn là tài liệu tham khảo trực tiếp để lồng ghép các chỉ số tổn thương sinh kế vào Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu cấp huyện và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể giai đoạn 2015-2025.
Thứ hai, Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc gia và Khu Dự trữ sinh quyển ven biển trên toàn quốc. Các nhà quản lý có thể ứng dụng mô hình tích hợp giữa bảo tồn đa dạng sinh học (với 2.380 loài sinh vật) và phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm, nhằm giải quyết bài toán xung đột tài nguyên giữa người dân và khu bảo tồn.
Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Địa lý học và Phát triển Bền vững. Luận văn cung cấp một khung phương pháp luận mẫu mực kết hợp giữa mô hình định lượng tính dễ bị tổn thương của Allison (2009) và Khung sinh kế bền vững DFID (2001) trong bối cảnh địa bàn hải đảo.
Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các tổ chức tài trợ quốc tế như UNDP, CARE, DANIDA. Dữ liệu khảo sát chi tiết 120 hộ dân là căn cứ thực tế chuẩn xác để xây dựng các đề xuất dự án viện trợ, thiết kế các chương trình sinh kế thích ứng dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaptation) và hỗ trợ giảm nhẹ rủi ro thiên tai ven biển.
Câu hỏi thường gặp
-
Ngành sinh kế nào tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà chịu mức độ tổn thương nặng nề nhất do biến đổi khí hậu?
Ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản chịu tổn thương cao nhất do có độ phơi nhiễm trực tiếp với bão, triều cường với biên độ cực đại đạt 4m và hiện tượng suy thoái rạn san hô (độ phủ san hô sống giảm xuống dưới 40%). Cụ thể tại xã Phù Long, có 37,2% hộ sử dụng lưới ghẹ và 33,3% hộ làm nghề xăm đáy đáy sông đều có nguy cơ mất trắng ngư cụ khi xảy ra thời tiết cực đoan.
-
Khung phương pháp luận nào được sử dụng để đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nghiên cứu?
Nghiên cứu kết hợp Khung đánh giá tổn thương của Allison (2009) dựa trên ba thành tố: Mức độ phơi nhiễm, Tính nhạy cảm và Năng lực thích ứng, tích hợp cùng Khung sinh kế bền vững của DFID (2001). Cấu trúc 05 nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, con người, tài chính, vật chất, xã hội) được lượng hóa thông qua dữ liệu điều tra 120 hộ gia đình tại 06 xã vùng đệm.
-
Hạn chế tự nhiên lớn nhất đối với sinh kế trồng trọt của người dân trên đảo Cát Bà là gì?
Hạn chế lớn nhất là tình trạng khan hiếm nguồn nước ngọt và địa hình đồi núi đá vôi karst hiểm trở. Lượng mưa hàng năm tuy đạt 1.700-1.800 mm nhưng 80-90% dồn vào mùa mưa, kết hợp địa hình không giữ được nước khiến phần lớn các xã như Xuân Đám, Hiền Hào, Trân Châu chỉ canh tác được 1 vụ lúa bấp bênh trong năm.
-
Rừng ngập mặn đóng vai trò gì trong việc nâng cao năng lực thích ứng sinh kế tại địa phương?
Diện tích 775,98 ha rừng ngập mặn tại xã Phù Long đóng vai trò là rào chắn sóng gió tự nhiên, bảo vệ hệ thống đê đầm nuôi thủy sản và hạn chế xói lở bờ biển. Đồng thời, đây là nơi ươm dưỡng nguồn giống thủy sản tự nhiên, giúp các hộ nhận khoán bảo vệ rừng kết hợp nuôi thủy sản quảng canh thu về hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
-
Người dân vùng đệm Cát Bà đã có những biện pháp tự thích ứng nào trước các biến động môi trường?
Người dân đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các loài chịu hạn có giá trị kinh tế như cây hồng hoa Hibiscus và cây ba kích tím tại Xuân Đám, Hiền Hào. Bên cạnh đó, các hộ gia đình phát triển nghề nuôi ong mật hoa rừng tự nhiên và linh hoạt điều chỉnh lịch gieo cấy lúa theo mùa mưa để thích nghi với điều kiện thiếu nước.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện và định lượng hóa thành công mức độ tổn thương sinh kế của 16.340 cư dân thuộc 06 xã vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà trước các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ bức tranh phân hóa mức độ nhạy cảm sinh kế, trong đó ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản ven bờ là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước bão lũ và biến động thủy triều.
- Đóng góp khoa học nổi bật của công trình là thiết lập quy trình đánh giá tích hợp thực chứng giữa Khung tổn thương Allison (2009) và Khung sinh kế bền vững DFID (2001) trên cỡ mẫu 120 hộ gia đình đại diện.
- Đề xuất hệ thống 04 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ từ công trình đến phi công trình, gắn liền việc bảo tồn 2.380 loài sinh vật với nâng cao sinh kế và mở rộng diện tích cây dược liệu thích ứng hạn hán.
- Thiết lập lộ trình hành động cụ thể giai đoạn 2013-2020 nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương và cộng đồng từng bước củng cố nguồn vốn sinh kế, giảm thiểu rủi ro thiên tai và bảo đảm phát triển bền vững vùng ven biển.
Các nhà quản lý đô thị, cơ quan ban ngành tại Hải Phòng cùng các tổ chức nghiên cứu môi trường cần khẩn trương áp dụng khung đánh giá này vào thực tiễn quy hoạch vùng ven biển, nhằm chủ động xây dựng các cộng đồng hải đảo có khả năng chống chịu cao và phát triển thịnh vượng trước biến đổi khí hậu.